Home » Biên giới - Biển đảo
Mã Phi Long
Trung Quốc gọi cuộc chiến xâm lược Việt Nam vào đầu năm 1979 là gì? - Cuộc
chiến phản công tự vệ chống lại Việt Nam - tên tiếng Trung là 对越自卫反击战. Tại sao lại có cái tên đó? Trung Quốc đã nhào nặn vô lý ra cuộc chiến đó
như thế nào.
Trên Baidu Baike - một nền tảng tương tự như Wikipedia được sở hữu, kiểm
duyệt bởi chính quyền Trung Quốc viết rằng sau khi Việt Nam hoàn thành công
cuộc thống nhất đất nước, Việt Nam ôm mộng thành lập nhà nước Liên Bang Đông
Dương và tìm cách thôn tính toàn bộ bán đảo Đông Dương. Quan điểm này cũng được
Netease Military đồng ý và trích dẫn từ các tư liệu Trung Quốc. Chính vì quan
điểm bá quyền này của Việt Nam, nên Trung Quốc quyết định rằng sẽ phải làm điều
gì đó để bảo vệ an ninh Đông Nam Á. Học giả Hai Xingzhou trả lời Netease News
cho rằng Việt Nam có “tham vọng thôn tính cả Đông Nam Á”. Chuyên trang lịch sử
iFeng nhận định ngoài Đông Dương, Việt Nam còn muốn thôn tính của Myanmar (?).
Sự thực thì Việt Nam không quan tâm đến cái gọi là Liên Bang Đông Dương và
chưa từng có việc Việt Nam muốn hợp nhất cùng với Lào và Campuchia thành lập
một nhà nước chung từ sau 1975. Quan điểm của cuộc đấu tranh chống Pháp, Nhật,
Mỹ trước đó luôn là độc lập dân tộc, thống nhất lãnh thổ. Thực tế, có quan điểm
về chủ nghĩa cộng sản sẽ lan rộng ra Đông Nam Á sau khi Việt Nam thống nhất,
nhưng đó chỉ là quan điểm từ phía đối lập. Thêm nữa, việc vu cáo cho Việt Nam
muốn thôn tính Myanmar và rộng ra cả Đông Nam Á là một luận điểm hơi buồn cười.
Cả trăm năm chiến tranh, muốn yên ổn chẳng được, lại muốn chiếm của Đông
Nam Á? Cỏ Trung Quốc à?
Nhiều học giả Trung Quốc cho rằng Việt Nam đã hợp thức hóa thành lập Liên
Bang Đông Dương bằng cách quấy rối tấn công trước Campuchia từ năm 1977. Nhưng
lịch sử lại cho thấy rằng Khmer Đỏ chủ động nã pháo vào Việt Nam từ 05/1975 -
tức là khi Việt Nam vừa hoàn thành thống nhất. Sau đó Khmer Đỏ tấn công Thổ
Chu, Phú Quốc trong năm 1975 và tấn công An Giang từ 1975 đến 1977. Vậy thì ai
mới là kẻ quấy rối và tấn công trước?
Một luận điệu vô lý khác nữa của Trung Quốc là Trung Quốc tấn công Việt Nam
nhằm bảo vệ Campuchia trước cuộc xâm lược của Việt Nam diễn ra trước đó vào
01/1979. “Cuộc chiến của Trung Quốc nhằm động viên nhân dân Campuchia đứng lên
chống Việt Nam” - được viết bởi Thời Báo Hoàn Cầu. Nhưng, vấn đề được đặt ra
là, “nhân dân Campuchia chống Việt Nam” thời đó chính là Khmer Đỏ - một chính
quyền được Trung Quốc ủng hộ nhiệt thành, chứ nhân dân Campuchia đích thực thì
đang bị thảm sát rồi. Trong lúc nhân dân Campuchia bị thảm sát thì người Trung
Quốc ở đâu? Liên Hợp Quốc ở đâu? Và khi người Việt Nam bị thảm sát, nhưng bằng
chứng tố cáo được nộp ra thì đều bị phủ định. Mãi sau này khi các lãnh đạo
Khmer Đỏ đứng trước vành móng ngựa, tội ác thảm sát người Việt mới được thừa
nhận.
01/1978, Việt Nam bày tỏ mong muốn các nước XHCN hỗ trợ vấn đề Khmer Đỏ. Từ
năm 1977, nhiều bằng chứng về Khmer Đỏ thảm sát dân thường Việt Nam, xâm nhập
biên giới Việt Nam được đưa ra, nhưng Trung Quốc luôn nói không. Ngay khi Khmer
Đỏ tiến hành diệt chủng, Trung Quốc cũng cho rằng các bằng chứng diệt chủng là
“mù mờ”.
Lịch sử đã minh chứng rằng Khmer Đỏ là một chế độ diệt chủng tàn ác và quân
tình nguyện Việt Nam cùng với nhân dân Campuchia đã đánh tan chế độ này. Không
có bất cứ một cuốn sách lịch sử chính thống nào của người dân Campuchia nói
Việt Nam xâm lược Campuchia cả. Và mới đây, một nguyên thủ ngoài Trung Quốc nói
“Việt Nam xâm lược Campuchia” là Lý Hiển Long đã bị các lãnh đạo Campuchia lên
án rất gay gắt vì xuyên tạc lịch sử, gợi nhớ ký ức diệt chủng tàn bạo.
Chính vì luận điệu “bảo vệ Campuchia”, Trung Quốc lại xuyên tạc rằng Việt
Nam tuyên bố rằng “có quân đội mạnh thứ ba thế giới” sau Hoa Kỳ và Liên Xô. Báo
chí Trung Quốc ghi rõ rằng “Việt Nam tuyên bố là quân đội mạnh thứ ba thế giới
nên Trung Quốc đã nhất định phải ngăn chặn đà này”. Trên diễn đàn Zhidao Baidu,
có rất nhiều topic được lập ra bởi dân mạng Trung Quốc về việc Việt Nam tuyên
bố như trên. Nhưng không có bất cứ một tài liệu trích dẫn nào cho thấy một lãnh
đạo, văn kiện, tài liệu nào của Việt Nam từng nói như vậy. Họ chỉ nói chung
chung rằng sau khi thống nhất thì Việt Nam nói như trên. Trên Sohu Military,
cũng vu cáo rằng Việt Nam tự tin vào “sức mạnh lớn thứ ba thế giới”. Còn Sina
viết “Trung Quốc đã đánh bại Việt Nam và Ấn Độ để khẳng định Trung Quốc mới là
lực lượng quân sự mạnh thứ ba vào giai đoạn 1970 - 1980”.
Bên cạnh đó, các tư liệu Trung Quốc khẳng định rằng Việt Nam là kẻ khai
chiến, xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc qua sự kiện Đình Hào Sơn diễn ra vào
01/11/1978. Nhưng, Việt Nam lại có bằng chứng về các vụ việc Trung Quốc chủ
động xâm phạm vào lãnh thổ Việt Nam từ trước đó. Các tư liệu quốc tế cũng chỉ
ra Trung Quốc là phía “luôn gây ra những cuộc náo động biên giới” - từ Edward
C. O'Dowd. Tại LHQ, Việt Nam nhiều lần đưa các bằng chứng về việc Trung Quốc
xâm lấn biên giới, nhưng đều bị phủ quyết.
Lịch sử không được tính bằng thế kỷ, cũng không được tính bằng thiên niên
kỷ. Cuộc đời mỗi người, sống được bao nhiêu năm? Lịch sử đã bị Trung Quốc bóp
méo mà không dựa trên bất cứ một nguyên tắc, luật lệ và bằng chứng quốc tế nào
cả. Khmer Đỏ diệt chủng người Campuchia, Trung Quốc đã làm gì? Không làm gì cả
và đến giờ, họ vẫn rêu rao rằng họ đang vì người Campuchia, và nhiều người
Campuchia lại tin vào điều đó.
Hai quốc gia đang gần nhau hơn từ quá khứ. Nhưng sự thực vẫn không được xóa
nhòa.
Nhưng cuộc chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam mãi là một cột mốc không phai.
Mã Phi Long
Tất cả báo chí khi thông
tin về trận chiến này đa số là do đài địch phát ra, chúng cố ý tô đậm những chi
tiết được coi là “bảo vệ chủ quyền” của những binh lính VNCH tham gia cuộc
chiến để đánh lừa dư luận, để rêu rao ca ngợi và để “vinh danh chiến sĩ quốc
gia oai hùng”; thực chất đó chỉ là chiêu bài của “Cục chiến tranh tâm lý ngụy”.
Ông Lê Văn Thự (người tham gia “trận hải chiến” có viết: “Tiếp đến HQ-10 báo
cáo Hạm trưởng bị thương. Tôi ra lệnh Hạm phó lên thay quyền chỉ huy, đồng thời
đặt ống nhòm nhìn sang HQ-10 tôi thấy một ngọn lửa nhỏ cháy ở đài chỉ huy có
thể dập tắt được bằng bình CO2 mà sao không ai làm. Quan sát phía sau lái HQ-10
tôi thấy 4, 5 cái đầu nhấp nhô trên mặt biển. Tôi không biết chuyện gì xảy ra
trên HQ-10 vì không nghe báo cáo gì thêm. Tôi đoán chừng vì Hạm trưởng bị
thương nặng nên HQ-10 như rắn mất đầu. Một số nhỏ nhát gan sợ tàu cháy hay
trúng đạn nổ nên đã nhảy xuống biển. Nhưng HQ-10 vẫn nổi bình thường, thăng
bằng, không nghiêng một chút nào cả.”.
Trong bài viết của mình, ông Lê Văn Thự nói rõ ràng mặc dù 4 tàu của VNCH lúc đó được đặt dưới sự chỉ huy của ông Ngạc, tuy nhiên, từ khi xảy ra “giao tranh” cho đến khi kết thúc trận chiến, ông Thự không nhận được bất kỳ một lệnh nào của ông Ngạc, đồng thời, trong tường thuật của ông cũng thể hiện chỉ có HQ-10 và HQ-16 (Phân đội II) độc lập tác chiến, không có sự hỗ trợ của Phân đội HQ-4 và HQ-5 (Phân đội I); thậm chí HQ-4, HQ-5 còn “bắn nhầm” vào hai tàu HQ-16 và HQ - 10.
Bên cạnh đó, trong bài
viết của mình, ông Thự còn khẳng định : “Sự thật HQ-4 và HQ-5 chẳng bị trầy một
mảnh sơn nào cả. Cả Hải quân đều biết. Vì thế cho nên chỉ một mình HQ-16 được
tiếp đón ở Sài Gòn và gắn huy chương chứ không có Đại tá Ngạc hay HQ-4 và
HQ-5”. Như vậy vai trò của HQ-4 và HQ-5 trong trận chiến này là gì ?
Ngụy quân với số lượng
tàu và vũ khí áp đảo (các tàu HQ-5, HQ-10, HQ-16 đều có vũ khí mạnh hơn 3 tàu
của Trung Quốc, tàu HQ-4 các súng đều sử dụng bằng điện, tốc độ bắn nhanh,
radar có tầm xa, vận tốc chiến hạm cao). Nhưng HQ-4 lại không tham chiến, HQ-5
thì lại bắn vào HQ-16, bên cạnh đó, ông Thự có đặt ra giả thuyết là hạm trưởng
HQ-10 có thể bị trúng đạn do HQ-5 bắn vào. Như vậy, với khoảng cách khá giữa
các tàu tham chiến lý do nào HQ-5 lại “bắn lạc” vào quân ta .
Một vấn đề cần nghi vấn
khác là sau khi trận chiến xảy ra, HQ-4 và HQ-5 chạy sang Phillipines chứ không
quay trở ngược lại Việt Nam. Chỉ có HQ-16 của ông Thự trở về với “thương tích
đầy mình”. Phải chăng việc chạy sang Phillipines với lý do “sửa chữa tàu” nhằm
mục đích che dấu việc HQ-4 và HQ-5 không bị một vết đạn nào như lời ông Thự
nêu?
Phải chăng, việc đưa hai
phân đoàn ra thực hiện nhiệm vụ nhằm một mục đích khác ? Những người trong Bộ
tư lệnh Hải quân VNCH và Đại tá Ngạc hoàn toàn biết kết quả của trận chiến,
thậm chí, sẵn sàng hi sinh HQ-10 và HQ-16 với một mục tiêu nào đó ? Trong bài
“Biển Đông dậy sóng” ông Trần Bình Nam có viết : “Đại tá Ngạc biết có một cái
gì đó sau lưng trận đánh nên ông đã dè dặt trong đôi lời trước khi viết rằng
ông chỉ “tường thuật trung thực những chi tiết theo khía cạnh của một người chỉ
huy chiến thuật”.
Với những vấn đề nêu ở
trên, có thể nhận thấy trận chiến khu vực Hoàng Sa ngày 19/1/1974 nằm ở một góc
độ sắp xếp có chủ ý của phía VNCH. Theo đó, sau khi bị “ông chủ” Hoa Kỳ buộc
phải nhường quần đảo cho Trung Quốc. VNCH đã rút dần khỏi các đảo đang chiếm đóng.
Để mị dân, phía VNCH chỉ
đạo 4 tàu chiến tham gia, trong đó, có 2 tàu sẽ là “tốt thí”; hai tàu còn lại
cũng tham chiến nhưng thực chất là tiêu diệt chính đồng đội của mình để ngụy
tạo chứng cứ, chứng minh thái độ “ yêu nước” qua việc “lên án Trung Quốc xâm
lược Hoàng Sa” bằng tư liệu của bộ máy tâm lý chiến của VNCH che dấu sự yếu
kém, bất lực của quân đội VNCH , che dấu việc bán nước, bán đảo theo lệnh chủ.
Với vở kịch “khổ nhục kế”
mà Mỹ, Ngụy tạo ra. Chấp nhận thí mạng của 74 người trên 2 tàu HQ - 10 và HQ -
16 ngày 19/01/1974, thực chất Mỹ - Ngụy đã hai tay dâng Hoàng Sa cho Trung Quốc
mà nguyên nhân chính là sự thỏa hiệp giữa người Mỹ và Trung Quốc; Thiệu và đám
bù nhìn ngụy Sài gòn muốn chiều ý Mỹ và để níu kéo hy vọng giữ miền Nam Việt
Nam nên đã can tâm, nhắm mắt dàn dựng vở kịch bi hài “Hải chiến Hoàng Sa”. Với
bản chất ô nhục muôn thủa của mình nên bây giờ chúng trâng tráo, không biết sĩ
nhục mà còn đòi “vinh danh”. Thực ra bọn chống Cộng cực đoan ở hải ngoại nó
chẳng yêu thương gì đến những người đã bị “quân ta bắn chết quân mình” năm 1974
đó đâu; có chăng chúng chỉ dựng lên để phục vụ cho mục đích đen tối của nó là
kích động người dân dưới chiêu bài “phò Mỹ bài Trung” mà lâu nay chúng đang
diễn đó thôi.
(Bài viết có tham khảo thông tin từ các nguồn chính thống)
Mã Phi Long
Đám tàn quân ngụy quyền
SG bên Hải ngoại vẫn mặt dày trơ trẽn chống cộng điên cuồng cho dù bộ mặt và
bản chất chống phá của chúng đã bị xã hội nhiều lần lên án, tẩy chay. Nhất là đối
với đám kền kền Việt Tân, chỉ trong thời gian ngắn, các bài viết trên trang
fanpage “Việt Tân” đã bị cộng đồng mạng lật mặt, không ai thèm đếm xỉa.
Thế nhưng,với mục tiêu
chống phá không thay đổi, chúng vẫn đeo bám một “lý tưởng” mê mờ với hy vọng “pục
cuốc” trong tương lai. Để đạt được mục tiêu đó, một trong nhưng chiêu trò được
chúng duy trì bấy lâu này chính là việc bồi bút xuyên tạc, nhằm phá hoại tư
tưởng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và một bộ phận nhỏ người Việt nhẹ
dạ cả tin ở trong nước. Các bài viết đa phần đề hướng tới hạ uy tín vai trò
lãnh đạo của Đảng, bằng việc phủ nhận mọi công lao, bẻ lái, bôi nhọ Đảng và
không quên kích động tâm lý tiêu cực, làm giảm sút niềm tin của quần chúng nhân
dân đối với Đảng. Để thu hút được sự quan tâm của dư luận, chúng rất biết khai
thác các chủ đề nhạy cảm hoặc còn mập mờ, hòng đạt được mục đích đen tối của
mình.
Trong đó, không thể không
kể tới vấn đề biển đảo, biên giới, một chủ đề chưa bao giờ hết tài nguyên để
chúng khai thác chống phá. Cho nên, hàng năm, cứ sắp tới ngày này là y như rằng
đám kền kền lại tổ chức cái gọi là "tưởng niệm Hải chiến Hoàng Sa"
với những luận phi lý nhằm đổ mọi lỗi lầm cho Đảng và quân đội nhân dân Việt
Nam, trong khi đó mất Hoàng Sa do chính ngụy nhu nhược để Mỹ và Trung Quốc đi
đêm với nhau và rồi mất biển đảo của ông cha vào tay Trung Quốc năm 1974, thế
nhưng, bao năm qua, nhằm bao biện cho hành vi của mình, suốt bao năm qua chúng
lại ra rả, đổ tội cho những người Cộng sản Việt Nam. Đúng là vô liêm sỉ và
trâng tráo vô cùng vô tận.
Để làm rõ sự thật và bẻ
gãy luận điệu xuyên tạc của đám kền kền Việt Tân, chúng ta cùng ngược dòng lịch
sử quay trở về bối cảnh những năm 1972. Ngày 21/2/1972, Tổng thống Hoa Kỳ là
Richard Nixon đã chính thức thăm Trung Quốc. Chuyến thăm của Richard Nixon tới
Trung Quốc với ý đồ dùng “nhất tiễn hạ song điêu” một mũi tên nhắm tới hai mục
đích chính trị lớn đó là: Gây chia rẽ sâu sắc giữa hai cường quốc cộng sản quan
trọng nhất (Liên Xô và Trung Quốc) và trong bối cảnh Hoa Kỳ đã sa lầy trong
chiến tranh Việt Nam, chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh bị sụp đổ và phải chấp
nhận đàm phán để tiến tới ký kết Hiệp định Paris. Hoa Kỳ cần một chiến thắng
trong danh dự để lấy lại thể diện, để áp đảo kết quả trên bàn đàm phán thì mục
tiêu của Hoa Kỳ là dùng át chủ bài của không lực Hoa Kỳ với ý đồ ngông cuồng là
“đưa miền bắc về thời kỳ đồ đá”. Muốn đảm bảo được chiến thắng trên bầu trời Hà
Nội, Mỹ cần Bắc Kinh không can thiệp quân sự vào Việt Nam, hạn chế cung cấp để
gây khó khăn cho Việt Nam.
Trong khi đó, giới chóp
bu Trung Quốc luôn mong muốn vươn lên làm “anh cả” khối XHCN, soán ngôi vị Liên
Xô, đồng thời bành trướng lãnh thổ theo chiến lược “viễn giao cận công” mở rộng
lãnh thổ về khu vực Đông Nam Á, nên họ cũng nhanh chóng bắt tay với Mỹ để mặc
cả. Chính vì vậy, sau chuyến viếng thăm này, không khó có thể nhận thấy những
hành động bất lợi của Trung Quốc nhằm ngăn cản ý chí thống nhất đất nước của
dân tộc Việt Nam. Điều này, thể hiện rõ trong nhận định của những nhà phân tích
quốc tế về thái độ của Trung Quốc sau chuyến thăm của TT Hoa Kỳ. Nghĩa là Trung
Quốc chỉ muốn miền Bắc là phên dậu cho họ như những gì diễn ra ở Triều Tiên
trước đó nhưng không muốn Việt Nam thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Trong bài viết “Năm 1972
trong lịch sử cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước” của tác giả Hà Minh Hồng cũng
nói rõ: "mưu toan" của Mỹ trong chính sách ngoại giao nước lớn là:
buộc Trung Quốc cắt giảm viện trợ cho Việt Nam (tức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa),
hòng ngăn chặn cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta (tức Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam) ở miền Nam. Cụ thể, ngay cuối trong năm 1972,
Trung Quốc đã có những động thái ngăn trở chiến tranh giải phóng miền Nam Việt
Nam, ngó lơ khi Mỹ leo thang ném bom miền Bắc, và đặc biệt trong chiến dịch
“Điện Biên Phủ trên không” – phía Mỹ gọi là Linebacker II. Tất nhiên, để đổi
lại sự an toàn, tự do đánh phá miền Bắc Việt Nam nhằm tìm kiếm một “chiến thắng
trong danh dự”. Mỹ sẵn sàng và chấp nhận trả cho Trung Quốc một cái giá nào đó.
Cái giá đó chính là : HOÀNG SA. Tuy nhiên người Mỹ đã lầm khi đánh giá sai về ý
chí và sức mạnh chính nghĩa vô địch của quân và dân Miền Bắc, cái gọi là “đưa
miền bắc về thời kỳ đồ đá đã nhanh chống trở thành “đưa niềm tự hào của không
lực Hoa Kỳ trở về thời kỳ đồ nhôm”.
Qua đây, rõ ràng cho thấy
bản chất tay sai của ngụy quyền Sài Gòn, họ chỉ là con rối cho Hoa Kỳ giật dây,
là công cụ để phục vụ cho các nước lớn sử dụng trong quá trình xâm lược các
quốc gia mà họ gọi là “đồng minh” như một vỏ bọc mĩ miều cho mưu đồ xâm lược
thuộc địa; cho nên, trong mắt người Mỹ chưa bao giờ ngụy quyền SG được coi là
một chính thể hợp pháp. Bởi bản chất của nó chỉ là những kẻ làm thuê, đánh thuê
phục vụ cho nhu cầu chính trị của Mỹ và các nước đồng minh. Được điều hành,
huấn luyện, trả lương bởi chính Hoa Kỳ. Bản thân ngụy Sài gòn chưa bao giờ được
tự chủ, chưa bao giờ có khái niệm về cái gọi là quyền tự quyết, sống ký sinh
như loài rông rêu mà thôi. Cụ thể ở chính ngay phát ngôn của “Tổng thống bù
nhìn” Nguyễn Văn Thiệu khi tuyên bố "Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi
nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng
tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập!" Theo Tiến sĩ James Carter, giáo sư sử học
tại Đại học Drew (Mỹ: “Chính thể Sài Gòn không thể tự nuôi nổi chính mình; thậm
chí không thu đủ lợi tức cho hoạt động hàng ngày”.
Như vậy cái được gọi là
“chính thể Việt Nam Cộng hòa” chỉ có thể là một thứ công cụ, làm thuê cho Mỹ
quản lý phần đất phía Nam của Việt Nam theo chế độ thực dân mới. Do đó, Mỹ mới
là kẻ xâm lược, chiếm đóng trái phép phần lãnh thổ phía Nam của Việt Nam. Bởi
là kẻ xâm lược, để đạt được mục đích của mình “rút lui trong danh dự”, một
chiến thắng để xoay ngược kết quả đàm phán Paris thì việc Mỹ nhượng phần đất
Hoàng Sa cho Trung Quốc để thực hiện mưu đồ của mình là một điều dễ hiểu. Ngay
cả những tướng lĩnh, chính khách của “VNCH” cũng cay đắng thứ nhận rằng ngụy
quyền Sài Gòn chỉ là những con rối bị Mỹ thao túng. Và người Mỹ thì chỉ coi
ngụy Sài Gòn là gì thì hãy nghe câu chuyện Nixon đã nói với Kissinger sẽ rõ:
"Không thể để có cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được”. Với Hoàng
Sa, khi Mỹ đã ra lệnh cho chính quyền VNCH nhường đất cho Trung Quốc đổi lại Mỹ
hứa hẹn sẽ bảo vệ miền Nam Việt Nam cho lũ rông rêu Thiệu, Kỳ. Mà đã là tôi tớ
thì đố dám cãi lại quan thầy nên để hợp pháp việc bán Hoàng Sa cho Trung Quốc
của Mỹ thì ngụy Sài Gòn bắt buộc phải diễn một vở kịch có tên: “HẢI CHIẾN HOÀNG
SA - 1974” để chạy tội bán nước, bán đảo.
Do đó, đến đây, chúng ta
đã thấy rõ được luận điệu xuyên tạc từ cái gọi là “tưởng niệm hải chiến Hoàng
Sa” của đám kền kền Việt Tân. Dù không thể phủ nhận những hy sinh của các chiến
sĩ Hải quân, bảo vệ biển đảo quê hương. Nhưng những sự hy sinh đó của họ đã bị
đám “tàn quân” bôi lem theo đúng cách mà chúng đã làm để bảo vệ Tổ quốc trước
sự xâm lăng của ngoại bang trước đây.
Ngày 12/1, Cục Đại dương, Môi trường Quốc tế và Các vấn đề
khoa học thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ thông báo, họ công đã công bố bộ Tài liệu 47
trang làm bằng chứng bác bỏ yêu sách phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông. Bộ
tài liệu này là bản cập nhật của một nghiên cứu tiến hành năm 2014 đến nay chỉ
ra các lý do về mặt địa lý, pháp lý, lịch sử biển Đông nhằm bác bỏ tuyên bố của
Trung Quốc với hơn 100 thực thể mà Bắc Kinh đề cập ở Biển Đông. Tài liệu này
khẳng định "các thực thể này đều chìm dưới mực nước biển khi thủy triều
lên, vượt quá giới hạn hợp pháp về lãnh hải của BẤT KỲ QUỐC GIA NÀO và chúng
không đáp ứng các tiêu chí về đường cơ sở theo công ước của Liên Hợp Quốc.
Báo cáo nghiên cứu của Mỹ cũng bác bỏ toàn bộ "Đường
chín đoạn" mà Trung Quốc đơn phương vẽ ra đòi yêu sách chủ quyền phi lý
với gần như toàn bộ diện tích Biển Đông, trong đó có đề cập đến việc bồi đắp
phi pháp đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, biến chúng thành đảo
nhân tạo và quân sự hóa thành tiền đồn trên biển. Nghĩa là, Mỹ không đề cập gì
đến 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam mà liệt nó
vào danh mục "chủ quyền" quốc tế để Mỹ bác bỏ yêu sách phi pháp của
Trung Quốc, trong khi Hoàng Sa và Trường Sa là chủ quyền của Việt Nam không thể
tranh cãi với cả Trung Quốc và Mỹ hay bất cứ quốc gia nào trên thế giới.
Thực tế, Mỹ đưa ra lập trường cứng rắn bác bỏ những yêu sách
chủ quyền phi pháp của Trung Quốc trên biển Đông trong bối cảnh hiện nay là có
lợi cho Asean nói chung và các nước có tranh chấp chủ quyền trên biển Đông nói
riêng. Song, Với người Việt Nam khi tiếp cận thông tin này, chúng ta nên đặt
dấu hỏi lớn cho mình, thận trọng trong việc ủng hộ quan điểm của Mỹ về giải
quyết tranh chấp chủ quyền trên biển Đông đối với 2 Quần đảo Trường Sa và Hoàng
Sa của Việt Nam. Lịch sử quan hệ Mỹ - Trung Quốc cũng có nhiều thăng trầm lắm,
nồng ấm từ thập kỷ 70 cho đến đầu thế kỷ 21 kìa, nhưng giai đoạn này là căng
thẳng thẳng nhất. Bài học của sự kiện 17/1/1974 vì sao Trung Quốc chiếm trọn
Hoàng Sa của Việt Nam và bài học sự kiện 2/1979, vì sao Đặng Tiểu Bình xua quân
xâm lược phía Bắc Việt Nam. Thời đó Mỹ với Trung như thịt với da, Mỹ cấm vận
Việt Nam còn Trung Quốc thì vẫn mưu toan bành trướng và tiếp tay cho
Khomedor... Nếu nhìn lại, máu của người Việt thời kỳ đó vẫn chưa ngừng chảy sau
ngày Tổ quốc thống nhất, vẹn toàn...
Là người Việt cần có tinh thần yêu nước bằng trái tim nóng,
cái đầu lạnh. Nghĩa là phải biết lời dạy của Bác "dĩ bất biến, ứng vạn
biến", “Phải hết sức tránh đối đầu chừng nào còn có thể tránh được, tìm ra
được điểm đồng giữa ta và họ, hiểu được quan hệ giữa họ với nhau, không để Việt
Nam bị kẹp trong xung đột giữa các nước lớn. Việt Nam là bạn của tất cả các
nước”.
Chúng ta cũng phải nhớ câu nói của Winston Churchill, cựu
Thủ tướng Vương quốc Anh rằng: "Không có bạn bè vĩnh viễn, không có kẻ thù
vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn” - Quan điểm này rất đúng cho
mọi quốc gia.
Trong mối quan hệ Việt Nam với láng giềng và thế giới hiện
nay cơ bản ổn định, kể cả Trung Quốc và Mỹ, tất cả đều vì lợi ích chung, trong
đó có lợi ích riêng của mỗi Quốc gia. Quan điểm đối ngoại của Việt Nam là bạn
bè, hợp tác, hòa bình, bình đẳng. Trong hợp tác có đấu tranh, trong đấu tranh
có hợp tác. Việt Nam không lợi dụng bất kỳ quốc gia nào để chống lại đường lối
quốc gia khác. Việt Nam đang thực sự tiến lên như một con rồng châu Á, chúng ta
tôn trọng lập trường của Mỹ trên biển Đông, chúng ta phản đối những yêu sách
phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông nhưng cần có 1 cái nhìn, đánh giá thận
trọng, không nên và tuyệt đối không được để biển Đông trở thành thùng thuốc
súng khi còn có thể giữ. Nếu không, nó sẽ là tai họa như Trung Đông - nơi mà
các mỏ dầu cũng không kém phần quan trọng như biển Đông, và Ukraina đang là tâm
điểm của Mỹ chứ không phải biển Đông lúc này...
Hãy có cách nhìn tinh tế
về vấn đề này!
Nguồn: ĐT media
Bên cạnh việc đấu tranh
chống lại các hành động phi lý của nước lớn, chúng ta cũng cần biết bảo vệ
mình, cung cấp các thông tin xác thực về những việc làm chính đáng của chúng
ta, góp phần định hướng đúng cho dư luận. Cuộc chiến tranh luận trên báo chí
quốc tế về tính chính đáng của các yêu sách chủ quyền trên Biển Đông đang diễn
ra quyết liệt
Tình hình Biển Đông càng
trở nên căng thẳng với nhiều diễn biến phức tạp và khó lường thì cuộc chiến
thông tin về tính chính đáng của các yêu sách chủ quyền trên Biển Đông càng thu
hút sự chú ý của giới nghiên cứu và dư luận quốc tế.
Thời gian gần đây, thế
giới lên tiếng lo ngại nhiều về những hành động lấn biển tạo đảo của Trung Quốc
ở Biển Đông với quy mô và mức độ chưa từng có, nhằm hợp pháp hóa yêu sách đường
9 đoạn, đe dọa hòa bình, ổn định và an toàn hàng hải, hàng không trên Biển
Đông.
Trung Quốc đã có vài bước
điều chỉnh chiến thuật như: tuyên bố sắp hoàn tất lấn biển tạo đảo, sẽ đi vào
củng cố các cơ sở vừa xây dựng; phàn nàn thế giới không hiểu Trung Quốc, rằng
họ là những người kiềm chế nhất và thậm chí còn là nạn nhân của các nước nhỏ
như Việt Nam và Philippines; chủ động tuyên truyền đối ngoại, vận động một số
bài báo ủng hộ. Cách làm này sẽ tác động tâm lý rất lớn tới độc giả nếu có
những bài báo không khách quan, cung cấp thông tin không thật chính xác hay cố
tình mập mờ gây hoang mang nghi ngờ, xuất hiện trên các tờ báo lớn có uy tín
quốc tế.
Cuộc chiến tranh luận
trên báo chí quốc tế về tính chính đáng của các yêu sách chủ quyền trên Biển
Đông đang diễn ra quyết liệt
Để đấu tranh cho sự thực,
cho công lý, điều quan trọng là bên cạnh việc đấu tranh chống lại các hành động
phi lý của nước lớn, chúng ta cũng cần biết bảo vệ mình, cung cấp các thông tin
xác thực về những việc làm chính đáng của chúng ta, góp phần định hướng đúng
cho dư luận. Chúng ta đã công khai tên 21 thực thể mà chúng ta đóng quân từ năm
1988. Chúng ta đã kiềm chế theo đúng tinh thần của Tuyên bố về ứng xử của các
bên ở Biển Đông (DOC 2002), không mở rộng chiếm đóng mới. Nhưng chúng ta chưa
kịp thời thông báo chúng ta có bao nhiêu điểm đóng quân trên cùng một thực thể
để một số tác giả lợi dụng tung tin Việt Nam chiếm giữ 48 thực thể trong Trường
Sa, coi Việt Nam là kẻ gây hấn lớn nhất ở Biển Đông, trong khi chúng ta là bên
có chủ quyền chính đáng, chúng ta tuân thủ luật quốc tế và các cam kết khu vực.
Qua vụ việc này các cơ quan hữu quan, nhất là báo chí sẽ có những biện pháp kịp
thời giúp độc giả đánh giá đúng hơn tình hình đầy phức tạp ở Biển Đông.
Rõ ràng đang có một cuộc
chiến tranh luận trên báo chí quốc tế về tính chính đáng của các yêu sách chủ
quyền trên Biển Đông, về những hành động đi ngược lại ước vọng hòa bình, ổn
định và luật pháp quốc tế của khu vực và thế giới.
Để đáp ứng kịp thời nhu
cầu hiểu biết của cộng đồng quốc tế, các căn cứ pháp lý lịch sử cũng như lập
luận của mình, các bên tranh chấp đều có chiến lược tuyên truyền của mình.
Không loại trừ một số học giả có thể được mời mọc bằng nhiều hình thức khác
nhau như thông qua kênh tài trợ các công trình nghiên cứu hay fellowship (học
bổng giao lưu ngắn hạn - NV), mời tham dự hội thảo có chủ đích, tạo điều kiện
tiếp cận các thông tin, chứng cứ, dữ liệu, quan điểm từ phía Trung Quốc. Cũng
có thể một số tác giả không nghiên cứu kỹ, sử dụng những bằng chứng của Trung
Quốc mà không kiểm tra nguồn một cách rõ ràng.
Cũng có những tác giả
nhìn nhận vấn đề trỗi dậy của Trung Quốc là yếu tố có lợi hơn là tranh đấu mấy
hòn đá nhỏ li ti ở Biển Đông. Nỗi lo sợ Biển Đông sẽ trở thành ngòi nổ cho Thế
chiến thứ ba sẽ dễ chấp nhận lập luận của Trung Quốc không muốn có thêm sự can
thiệp của bên thứ ba vào tiến trình giải quyết tranh chấp.
Chúng ta cần nhìn nhận sự
phức tạp và các luồng tâm lý đó trong cuộc chiến báo chí về Biển Đông. Chúng ta
vui mừng vì đa số các tác giả, nhà nghiên cứu khách quan, khoa học, song cũng
nhận thấy họ cũng có những hạn chế không trực tiếp nghiên cứu tài liệu bằng
tiếng Trung (nhất là tiếng Trung cổ), tiếp xúc với các tư liệu Hán Nôm của Việt
Nam thông qua biên dịch chưa hoàn hảo, tiếp cận các tài liệu chính thống...
Tình hình Biển Đông đang
được các bên theo dõi chặt chẽ. Dù có những phản đối quốc tế hóa Biển Đông
nhưng bản thân Biển Đông đã là một vấn đề quốc tế, thu hút sự quan tâm của
nhiều nước, của cộng đồng quốc tế.
Các bức ảnh vệ tinh cho
thấy các tàu quân sự Trung Quốc ngày càng xuất hiện nhiều hơn tại các vùng biển
xa hơn, không chỉ gần bờ biển Philippines, Việt Nam mà cả Malaysia. Điều này
cho thấy Trung Quốc không bao giờ từ bỏ ý định độc chiếm Biển Đông. Malaysia
với chính sách ngoại giao ôn hòa cũng buộc phải lên tiếng phản đối đường 9 đoạn
của Trung Quốc, cáo buộc các hành vi xâm phạm vùng biển của mình từ các tàu hải
quân Trung Quốc.
Bắc Kinh đang mất dần
những người bạn, mất dần lòng tin của các nước trong khu vực và ngày càng nhiều
nước ý thức được rằng nếu không chung sức ngăn chặn những hành vi bất chấp luật
pháp này, ngày mai bạn sẽ là nạn nhân của nó. Một bờ đê vững chãi cần phải được
xây dựng và bồi đắp chống lại những cơn sóng vỗ đi ngược lại mong muốn của cộng
đồng và luật pháp quốc tế.
Nguồn: QĐND
Cụ thể hôm 6/7, tờ South China Morning Post
(SCMP) đưa tin tàu nghiên cứu của Đại học Tôn Trung Sơn, tàu nghiên cứu mới nhất
và lớn nhất do nhà máy đóng tàu Giang Nam của Trung Quốc chế tạo, sẽ được đưa đến
Hoàng Sa vào tháng 10 để tiến hành nghiên cứu về khí quyển đại dương, đáy biển,
sinh vật biển và “khảo cổ học”. Nhà máy đóng tàu Giang Nam cũng là nơi đóng chiếc
hàng không mẫu hạm thứ 2 và 3 của Trung Quốc.
Vào tháng 8/2020, khi con tàu được khánh
thành, tờ Hoàn Cầu Thời Báo của Trung Quốc nói con tàu là nền tảng nghiên cứu
khoa học biển hàng đầu của Trung Quốc trong tương lai và “đóng vai trò tích cực”
trong chiến lược phát triển hàng hải và của Khu vực Vịnh lớn Quảng Đông-Hong
Kong-Macao. Theo tờ báo Trung Quốc, con tàu nghiên cứu có chiều dài 113m, rộng
19,4m và lượng giãn nước khoảng 6.900 tấn này có khả năng điều hướng toàn cầu
trong các khu vực hàng hải không giới hạn và có thể chở hơn một chục phòng thí
nghiệm di động.
Trên tàu còn có một bãi đáp trực thăng, thuận
tiện cho các nhà nghiên cứu khoa học và vận chuyển vật liệu, đồng thời có thể
dùng làm bãi đáp cho máy bay không người lái, có thể mở rộng phạm vi quan sát
nghiên cứu khoa học. Hoàn Cầu Thời Báo nói con tàu có khả năng hoàn thành nhiều
loại nghiên cứu khoa học khác nhau “từ đáy biển cho đến bầu trời cao 10.000
mét”. Trong khi đó, SMCP cho rằng việc Bắc Kinh đưa tàu nghiên cứu đến Biển
Đông là nhằm thúc đẩy việc khảo sát và thăm dò các vùng biển giàu tài nguyên. Đây
thực sự là hành động khiêu khích trắng trợn của phía chính quyền Bắc Kinh trong
tình hình dịch Covid đang diễn biến hết sức phức tạp trên thế giới, khu vực như
hiện nay.
Ngay lập tức, tại cuộc họp báo ngày 8/7, người
phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lê Thị Thu Hằng đã nói lên thông điệp: “Mọi
hoạt động thăm dò, nghiên cứu khoa học và khảo sát vùng biển Hoàng Sa mà không
có sự cho phép của Việt Nam là xâm phạm chủ quyền và các quyền liên quan của Việt
Nam, bất hợp pháp và vô giá trị”, đồng thời bà cũng nhiều lần đề cập “Việt Nam
có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử, khẳng định chủ quyền đối với quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các quyền hợp pháp đối với các vùng biển của
Việt Nam được xác định phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm
1982”.
Chính vì vậy, chúng ta thấy kế hoạch đưa
tàu nghiên cứu của Trung Quốc đến quần đảo Hoàng Sa là “xâm phạm chủ quyền” của
Việt Nam. Nếu chỉ xét riêng khía cạnh pháp lý, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng,
luận chứng để kiện “người bạn tốt” ra Tòa quốc tế. Bởi vì, các hành động của
Trung Quốc đã vi phạm các quyền và lợi ích pháp lý của Việt Nam, vi phạm luật
pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và các
văn bản pháp lý quốc tế liên quan, đi ngược lại với tinh thần và lời văn của
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký giữa ASEAN và Trung Quốc
năm 2002.
Những hành động phi pháp và sự toan tính
đen tối trên của Trung Quốc không những không giúp họ đạt được mục tiêu mà chỉ
làm cho thế giới thấy ghê tởm, thấy được coi thường và bất chấp luật pháp quốc
tế của họ. Những hành động có chủ ý, có tính toán như vậy chỉ tạo ra thêm căng
thẳng với các nước ASEAN, đặc biệt với người hàng xóm từ thuở “hồng hoa” như Việt
Nam.
Trên mặt giấy tờ, Trung Quốc ngang nhiên
tuyên bố thành lập hai đơn vị hành chính để quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa của Việt Nam, đồng thời tiến hành các hoạt động gây hấn, xâm phạm trắng trợn
chủ quyền Việt Nam trên thực địa. Các động thái trên giấy tờ lẫn ngoài thực địa
diễn ra theo một kịch bản theo kiểu “sự đã rồi”, nhưng xin thưa hành động khiêu
khích kiểu này chúng tôi đã quen rồi.
Hy vọng rằng, những hành động khác người và
toan tính mưu mô của Trung Quốc sẽ bị dự luận quốc tế lên án mạnh mẽ, không thể
có hữu nghị, hòa bình khi vẫn gây hấn được, chắc chắn đây sẽ là nước đi sai lầm
và sớm muộn Trung Quốc sẽ phải gánh chịu hậu quả.
Ngọc
Lan
"Không lãnh đạo Việt Nam
nào có ý định nhượng bộ Trung Quốc về chủ quyền. Nếu để mất Biển Đông, tất cả
chiến sĩ quân đội, lãnh đạo đều có tội với dân", Thượng tướng, Thứ trưởng
Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định trong cuộc phỏng vấn với VnExpress.
- Phụ trách đối ngoại quốc phòng hơn 10 năm, ông đối diện
và ứng xử thế nào với định kiến về sự lép vế của một nước nhỏ với các nước lớn?
- Với tôi, trong quan hệ quốc tế cần khiêm tốn, nhưng quan
trọng hơn là tự tin. Điều gì có thể nhịn thì nhịn, nhưng nếu động vào điểm mấu
chốt: độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thì không bao giờ tôi nhịn. Khi
tiếp xúc với bạn bè thế giới, chưa bao giờ tôi có cảm giác tự ti Việt Nam là
một nước nhỏ, chưa bao giờ tôi nghĩ chúng ta phải ngước lên nhìn ai cả. Và
trong thực tế tôi cũng cảm nhận được sự tôn trọng của quốc tế với đất nước ta.
Có nhiều lý do để tự hào, tự tin về đất nước mình, nhưng
lý do quan trọng nhất là dân tộc ta có lịch sử hào hùng, phải trả bằng bao
nhiêu xương máu của các thế hệ đi trước. Cơ đồ hôm nay được xây đắp trên quá
khứ hào hùng ấy. Đừng bao giờ nghĩ rằng ngồi với người Mỹ thì không nên nhắc
tới chiến tranh Việt Nam, không nhắc tới chiến thắng của dân tộc ta. Mỗi khi
gặp mặt, tôi hay kể cho các tướng lĩnh Mỹ nghe về chiến tranh Việt Nam, về
những người lãnh đạo, tướng lĩnh của Việt Nam, về những hy sinh của nhân dân,
bộ đội Việt Nam. Họ yên lặng lắng nghe và nhiều lần đề nghị: "Ông hãy nói
tiếp nữa đi - về những gì các ông đã trải qua, và nhờ những gì mà các ông thắng
chúng tôi?". Trong tiếp xúc đối ngoại, những vấn đề của hôm nay luôn phải
gắn với bài học lịch sử, đặc biệt là với những quốc gia đã có "duyên
nợ" với Việt Nam trong quá khứ. Trong những lần nói chuyện như thế, tôi
thấy rằng sức thuyết phục, lý lẽ của Việt Nam đều được thừa nhận, mặc dù trong
thâm tâm họ có thể không hài lòng.
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh
"Đừng tưởng đóng cửa với Mỹ thì Trung Quốc sẽ nhẹ
giọng"
- Ông vừa nhắc đến các "quốc gia duyên nợ" với
Việt Nam. Nguyên tắc ứng xử của ông với các quốc gia này là gì?
Chúng ta đã trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt và
đã giành những chiến thắng vĩ đại. Nhưng vĩ đại hơn nữa là cách chúng ta ứng xử
sau chiến tranh. Điều ấy sẽ định vị hình ảnh một Việt Nam chiến thắng văn minh
và yêu hòa bình.
Người Mỹ thường hỏi tôi sao quan hệ Việt Nam - Cuba tốt
đến như thế? Tôi trả lời: "Chúng tôi quan hệ máu thịt với Cuba. Ngoài tình
cảm truyền thống giữa hai nước, Việt Nam còn muốn thế giới thấy chúng tôi không
bao giờ bỏ bạn. Các ông có thể không thích, nhưng chắc các ông cũng mong có
được những người bạn thủy chung như thế".
Bạn biết đấy, đừng tưởng lờ Cuba đi mà người Mỹ sẽ tốt với
chúng ta. Đừng tưởng căng với Trung Quốc sẽ lấy được lòng người Mỹ. Cũng đừng
tưởng đóng cửa với Mỹ thì Trung Quốc sẽ nhẹ giọng với mình.
Dùng chính những bài học lịch sử trong mối quan hệ với các
quốc gia khác để làm Đối ngoại là cách mà Việt Nam lựa chọn. Có lần ông Thượng
nghị sĩ Leahy, Chủ tịch Thượng viện Mỹ nói với tôi: "Trong quan hệ Việt
Mỹ, khó nhất và nhạy cảm nhất là việc khắc phục hậu quả chiến tranh. Nhưng kỳ
diệu thay, đến bây giờ lại trở thành một trong những lĩnh vực hiệu quả nhất và
đem lại nhiều cảm hứng nhất để thúc đẩy quan hệ Việt Mỹ".
Trong quan hệ với Trung Quốc cũng vậy, chưa bao giờ ta né
tránh nói về cuộc chiến tranh biên giới, hay những điểm đen trong lịch sử quan
hệ hai nước. Có điều là chúng ta nói để những điều đó đừng lặp lại, thì sẽ tốt
cho cả hai phía. Và ngay vấn đề ngày hôm nay là Biển Đông, chúng ta cũng phải
lấy bài học lịch sử ấy để xem xét mà xử lý. Mọi vấn đề dù khó khăn nhất, nếu
chúng ta biết nhận thức đâu là lợi ích chính đáng, đích thực, thì cả hai phía
sẽ tìm được con đường giải quyết mà không phải động binh đao.
Thách thức trên Biển Đông và sự tự tin của Việt Nam
- Dù là thời chiến hay thời bình, nhiệm vụ tối cao của
người lính là bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền đất nước. Biên giới đất liền đã coi là
tạm yên, nhưng bao giờ người Việt Nam có thể yên lòng khi nghĩ về Biển Đông?
- Chúng ta luôn nhận thức đầy đủ thách thức về an ninh của
mình trên Biển Đông. Nó có thể xâm hại chủ quyền lãnh thổ và dẫn đến xung đột.
Đây là những nguy cơ lớn nhất và đang hiện hữu. Cho nên người Việt Nam từ trẻ
đến già, ai cũng lo lắng về Biển Đông. Đó là điều dễ hiểu.
Nhìn một cách hình thức, có thể thấy Trung Quốc rất mạnh
và đã làm nhiều việc trên Biển Đông. Quyết tâm, tham vọng của họ ngày càng lớn.
Chưa kể, họ vô cùng kiên trì để dần dần đạt được tham vọng chủ quyền của mình.
Họ không e ngại dư luận nên khó có thể nói không lo lắng. Cả thế giới lo chứ
không riêng chúng ta.
Có hai việc cơ bản, quan trọng nhất, để hình thành cách
ứng xử trên Biển Đông. Một là, chúng ta phải khẳng định chủ quyền. Không bao
giờ chúng ta được mơ hồ về điều đó, không bao giờ được quên điều đó, không bao
giờ được buông điều đó. Hai là, phải tin rằng chúng ta sẽ bảo vệ được chủ quyền
đất nước. Trong đó quan trọng nhất là tự tin - tin vào lòng dân, tin vào đường
lối, cách ứng xử của Đảng và nhà nước, trên cơ sở hội tụ ý chí của người dân.
- Ngoài niềm tin, chúng ta phải làm gì để giữ được quyền
chủ quyền và quyền tài phán của mình trên Biển Đông?
- Trong cuộc đấu tranh này, việc xác định đầy đủ phạm vi
chủ quyền của mình là vô cùng quan trọng. Chúng ta phải pháp lý hóa những gì
chúng ta tuyên bố, những đảo, đá nào chúng ta có chủ quyền, thềm lục địa của
chúng ta đến đâu... Dựa trên cơ sở đó, chúng ta phải giữ cho bằng được 21 điểm
đảo, 33 điểm đóng quân và các vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam tại Trường Sa.
Chúng ta cũng kiên trì đấu tranh cho chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa, mặc dù
đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép, nhưng Việt Nam không bao giờ từ bỏ, và
không được phép từ bỏ.
Chúng ta phải giữ bằng được quyền chủ quyền trên thềm lục
địa 200 hải lý và làm cho tất cả các nước hiểu và tôn trọng quyết tâm sắt đá ấy.
Chúng ta phải làm cho Trung Quốc và các nước khác tôn trọng, thực hiện luật
pháp quốc tế khi hoạt động trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Duy trì và
phát triển lao động hợp pháp của ngư dân, dầu khí, nghiên cứu biển, vận tải, du
lịch...
Nếu xác định rõ ràng và quyết tâm như thế, thì tôi có thể
trả lời câu hỏi của bạn: Thách thức là có thật, nhưng chúng ta sẽ bảo vệ toàn
vẹn chủ quyền trên Biển Đông. Và trên thực tế, hiện nay chúng ta vẫn đang giữ
toàn vẹn chủ quyền trên biển đó chứ.
- Nhưng chiến thuật của Trung Quốc ở biển Đông là lấn từng
bước mà không cần đến các biện pháp quân sự. Họ áp dụng cách này không chỉ một
lần trong lịch sử, và thực tế là nó đã hiệu quả. Ông đánh giá thế nào về thực
tế này?
- Sự hiện diện của Trung Quốc ở Biển Đông có thể ngày càng
nhiều, nhưng bạn có thấy lá cờ đỏ sao vàng cũng đang hiện diện ngày càng dày
đặc, thường xuyên, đa dạng trên Biển Đông không? Các đảo ở Trường Sa của chúng
ta ngày càng thêm xanh, thêm đông vui, thêm điện sáng suốt đêm như những ngọn
hải đăng Việt Nam ở biển xa, với cuộc sống lao động ngày càng sôi động hơn. Các
giàn khoan dầu khí, hoạt động thăm dò, nghiên cứu, bảo vệ môi trường biển, các
đoàn tàu du lịch, vận tải biển của thế giới bình yên đi qua Biển Đông. Các
chuyến tàu dân sự, quân sự, khoa học của các nước tấp nập đến với Việt Nam...
Các ngư trường đánh cá của chúng ta ngày càng xa, ngày càng nhiều. Tất cả đều
hợp pháp, phù hợp luật pháp quốc tế. Chúng ta không tranh giành, xâm lấn thêm
của ai cả.
Hải quân Việt Nam cũng hiện diện rất chững chạc, tự tin,
đàng hoàng và ngày càng nhiều hơn trên Biển Đông. Năm nay chúng ta diễn tập bắn
đạn thật ở các đảo Trường Sa. Trong toàn bộ vùng biển Đông Nam Á, vùng biển
Việt Nam là an toàn nhất, không có cướp biển, không có buôn người và đang được
Cảnh sát Biển bảo vệ rất tốt. Đó là những cái mình làm mà chưa nói, bây giờ tôi
nói. Lẽ nào đó không phải là lời khẳng định hùng hồn về chủ quyền của chúng ta.
Vừa qua chúng ta bàn luận nhiều đến sự hiện diện của tàu
dân quân biển Trung Quốc trên Biển Đông. Sự quan tâm đó là hợp lý, vì hàng trăm
con "tàu lạ" cứ đứng lỳ ra đó mà không làm gì thì cũng thật khó coi.
Nhưng đánh giá việc đó như thế nào, bực tức ra sao là một chuyện, còn xử lý như
thế nào lại là việc khác. Bộ Ngoại giao ta đã tuyên bố mạnh mẽ, rõ ràng, hải
quân, cảnh sát biển nắm chắc tình hình, hiện diện ngay tại đó để bảo đảm rằng
luật pháp Việt Nam và quốc tế sẽ được tuân thủ - nếu anh vi phạm luật pháp, tôi
sẽ xử lý theo luật. Trong khi đó, các hoạt động lao động của ta trên biển vẫn tiến
hành bình thường.
- Vậy nguyên tắc giải quyết của Việt Nam trong tình huống
này là gì?
- Kiên quyết, kiên trì nhưng không manh động, không khiêu
khích - đó là cách chúng ta đã làm, đang làm và sẽ làm. Có lần tôi gặp Thượng
tướng Lưu Á Châu, Chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc. Ông ta nói: "Cái
quan trọng nhất của cả Việt Nam và Trung Quốc, là hai bên đừng hành động quá
tay hay tuyên bố quá lời". Tôi trả lời: "Tôi rất đồng tình với đồng
chí, vì chúng tôi chưa bao giờ nói và làm quá giới hạn chính đáng cả".
Quan điểm các quốc gia có thể khác nhau, lợi ích cũng khác
nhau và đôi khi mâu thuẫn. Năm 2011, sau vụ tàu Bình Minh bị cắt cáp, tôi sang
gặp lãnh đạo Bộ Quốc phòng Trung Quốc, khi hai bên đang tranh luận, ông ta nói:
"Nếu tôi nói Trường Sa, Hoàng Sa không phải của Trung Quốc thì tôi không
còn là người Trung Quốc. Nhưng tôi hiểu nếu đồng chí nói Trường Sa, Hoàng Sa là
của Trung Quốc thì đồng chí cũng không phải là người Việt Nam nữa. Chúng ta
khác nhau và đó là lý do phải ngồi lại với nhau". Rõ ràng họ cũng thấy vấn
đề, có điều mình phải kiên trì đấu tranh, thẳng thắn nhưng rất chân thành. Bên
cạnh đó, phải luôn duy trì vấn đề này trên các diễn đàn quốc tế, không bao giờ
để bất cứ ai bịt miệng. Ở Biển Đông, Việt Nam tự tin có cả chính nghĩa lẫn luật
pháp. Đó là điểm mấu chốt, toàn cầu hóa, không phải quốc gia nào muốn làm gì
thì làm, bất chấp cả đạo lý lẫn pháp lý được.
"Thóa mạ giúp chúng ta sướng miệng chứ không giữ
được nhà"
- Có lo ngại rằng, một số lãnh đạo có tâm lý ngại Trung
Quốc, muốn dĩ hòa vi quý với họ, ông nghĩ sao?
- Thật ra khi có một kẻ đe dọa chủ quyền nước mình thì
không ai có thể yên tâm và vui lòng được. Tâm lý nghi ngờ của nhiều người Việt
Nam, tôi hiểu, nó rất bình thường. Nhưng điều tôi thấy không bình thường là
nhiều người không phân biệt được giữa làm thế nào để giữ chủ quyền với làm gì
cho bõ ghét. Việc chúng ta phải làm là giữ nhà, và quan hệ thuận hòa với láng
giềng, chứ không phải thoá mạ làm mất mặt họ. Thoá mạ giúp chúng ta sướng
miệng, chứ không giữ được nhà, cũng không có yên ổn mà làm ăn.
Tôi khẳng định, không một ai ở đất nước này có suy nghĩ
rời bỏ hoặc nhân nhượng về chủ quyền, đặc biệt là những nhà lãnh đạo. Nếu để
mất Biển Đông thì quân đội Việt Nam, các nhà lãnh đạo sẽ có tội với đất nước,
và cũng sẽ không yên với dân được. Trong quân đội, từ trên xuống dưới, đều coi
Biển Đông là sống còn. Chủ quyền lãnh thổ là điều chúng ta tuyệt đối không bao
giờ buông tay.
Người Việt Nam cần đặt lòng tin vào Đảng, Nhà nước trong
chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Thêm vào đó, mỗi người chúng ta có thể có những hành
động thiết thực hơn để giữ nhà mình, làm sao để đất nước phát triển, thật
nhanh, thật vững chắc - đó chính là giải pháp quan trọng nhất để giữ chủ quyền.
Tôi muốn chúng ta phải xử lý vấn đề với sự khôn ngoan và tỉnh táo tuyệt đối,
đấu tranh giữ chủ quyền, nhưng đừng để mất hòa bình, đừng cản trở sự phát triển
của đất nước.
Tôi từng nói: "Nếu thêm cho tôi một dollar xuất khẩu
nông sản thì sẽ bớt áp lực đi một dollar để bảo vệ chủ quyền Biển Đông".
Đất nước phát triển, biên cương càng vững chắc. Mà phát triển không phải là để
đổ tiền mua vũ khí. Trái lại, Trường Sa phải giàu lên để đất nước ngày càng
giàu mạnh. Đó chính là giữ nhà. Đừng để những vụ tham ô, tham nhũng bào mòn
lòng tin và sức mạnh quốc gia, đó là giữ nhà. Đừng vì yêu ghét mà không nắm
bắt, tận dụng cơ hội phát triển của Trung Quốc để Việt Nam cùng phát triển. Đó
là giữ nhà. Mỗi người dân hãy cùng đóng góp phát triển, xây dựng kinh tế, để
đất nước hùng mạnh. Đó chính là giữ nhà.
Nguồn: VnExpress.
Tác giả người Philippines
"Rạn san hô Whitsun: Chính sách ngoại giao thất bại của Duterte với Trung
Quốc" đã đưa ra những phân tích rất sâu sắc, về chiến lược ngoại giao, và
bảo vệ chủ quyền của tổng thống Philippines Duterter, và nhận định đây là một
chiến lược ngoại giao hèn yếu, nhu nhược, theo kiểu cầu mong sự thương sót của
Trung Quốc, nó đã không có tác dụng, trong việc bảo vệ chủ quyền, khiến cho các
đảo, và bãi đá ngầm của Philippines, liên tiếp rơi vào tay Trung Quốc.
Tác giả đưa ra một vài
phân tích, về chiến lược của Việt Nam, cho rằng đó là một chiến lược rất khôn
ngoan, Việt Nam luôn thể hiện tinh thần kiên cường, bất khuất, luôn quyết tâm
đối kháng với kẻ mạnh, người dân sẵn sàng hi sinh để bảo vệ tổ quốc, đó chính
là những thứ, khiến Trung Quốc tin, Việt Nam không dễ bắt nạt.
Chính sách của Việt Nam
không hô hào, trống rỗng theo kiểu Philippines, mà âm thầm, kín đáo, họ có thể
cứng rắn thể hiện sức mạnh bản thân, bằng các cuộc tập trận, bằng những cải
biến không ngừng về khả năng phòng thủ, bằng những phát ngôn ngoại giao khôn
khéo, cứng nhưng không làm mất mặt Trung Quốc, đó là lý do vì sao Trung Quốc
rất ngại đối mặt với Việt Nam.
Cuối cùng tác giả đưa ra
kết luận rằng: Có lẽ cách tốt nhất để Philippines đảm bảo “lòng thương xót” của
Trung Quốc, là bớt “nhu mì” hơn một chút, và thay vào đó hãy giữ vững lập
trường của mình, với tư cách là một nhà lãnh đạo uy nghiêm, của một quốc gia có
chủ quyền, hay tốt hơn, là nhìn sang Việt Nam, học cách họ đối mặt với gian
nguy, để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc.
Cre: Theu Truong
==
My Giáng: VN bảo vệ đất
nước bằng ko phải lời nói và sự nhún nhường mà bằng máu và sự kiên cường, TQ
hiểu điều đó.
Ruby nguyễn: Muốn học
tinh thần bất khuất của VN kg phải dễ, cái đó nó đã ngấm vào máu thịt của tầng
lớp người VN từ ngàn năm nay rồi.
Khoa Lưu: Ngta nể NB vì
nói là làm, NB sợ TQ vì làm mà ko nói, TQ sợ VN vì nói 1 đường làm 1 nẻo. Bộ
ngoại giao: Chúng tôi rất quan ngại... Trong khi bộ quốc phòng mang súng ra
biển Đông tập trận.
Chuck N.: Đó là vì Việt
Nam đã học được bài học đắt giá trong quá khứ để có thể có được cách ứng xử mềm
dẻo khôn khéo 'dĩ bất biến ứng vạn biến' đối với TQ như hiện nay.
Yến Nguyễn: Chính sách
ngoại giao của Phi thật bế tắc và nhu nhược ,không nhất quán gì cả. Đây là hậu
quả của việc chuyên đi dựa vào nước khác để bảo vệ Tổ quốc của mình
Thanh Bo le ro: Người dân
Philipin cũng kiên cường và yêu nước . Các bạn hãy mạnh mẽ , đoàn kết và tự tin
thì mọi việc sẽ tốt đẹp thôi . Chúc đất nước bạn thành công và phát triển .
Vang Le: Qua khói lửa,
khó khăn để thế giới kính nể và yêu mến hơn, thấy rõ bản lĩnh của người Việt.
tam to: VN trải qua bao
nghìn năm chiến tranh rồi, nên TQ cũng ko dám liều lĩnh, nó chơi âm mưu thôi
Chí Truong Bảo: VN bảo
vệ tổ quốc bằng cả dân tộc chứ không phải một cá nhân lãnh đạo
Văn Vinh Nguyễn: Sách
lược ngoại giao của VN là cả tập thể lãnh đạo bộ tứ ( Đảng, Nhà nước, quốc hội
và Chính phủ) còn Philipin thì khác vì mọi quyền lực nhà nước đều tập trung vào
cá nhân vị Tổng thống nên tiềm ẩn nhiều rủi ro ko lường trước được
DuongNam Van: Tài năng ,ban
lĩnh như tổng thống philippin ở khu phố, làng ấp ở Việt Nam có hàng tá
Huong Đang: Tổng thống TT
bằng tổ trưởng tổ tự quản của Việt Nam
Đô Thị HN: Nước Việt Nam
kiên cường bất khuất chưa từng chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù hùng mạnh
nào trên thế giới
Hoang Phuc Vu:
Philippines mà cứng rắn ngay từ đầu thì TQ cũng dè chừng. Bây giờ vẫn chưa
muộn. Philippines cần dũng cảm lên, tận dụng chính nghĩa đoàn kết toàn dân đoàn
kết với các nước trong khu vực và tận dụng đồng minh và dư luận chống TQ của
thế giới
The Canh Media: Nói ít
làm nhiều địch sẽ không biết ta sẽ đối phó như thế nào Trung Quốc mới đầu hay
dùng phép thử đối với đối phương sau không thấy phản ứng sẽ lấn tới
Lam Nguyen: Bài báo phân
tích tôi thấy rất đúng. Tiêu chuẩn kép hay tiền hậu bất nhất chỉ là trò chơi
của các nước lớn và ngang ngược.
Duy Hồng: Muốn thắng địch
thì phải "hiểu" địch mà ông Đu thì ko bao giờ có thể hiểu đc TQ.
Ngọc Tuấn Phạm: Có một TT
như ông Duteter thì Philippines khó mà phát triển kể cả kinh tế lẫn quân
sự...Qúa ngạo mạn nhưng lại hèn nhát và nhu nhuowc...
Nam Nguyen: chơi với TQ
ko những phải cứng mà còn phải khôn khéo , chứ nghịch nó thì khó giàu mà ko
chống thì nó nuốt
Thọ Nguyễn: Trung quốc
nhìn philippines như thiếu nữ nhu mì rất dễ sợ, còn việt nam như một con nhím
nhỏ nhưng rất khó nuốt.
Thuy Van: Lịch sử cho
thấy Việt Nam đối mặt Nguyên- Mông,phong kiến Trung Hoa,Pháp,Mỹ,Nhật,Trung Quốc
không hề run sợ ,vậy tên tổng thống Philippine khi đối đầu Trung Quốc chưa đánh
đã đầu hàng ...quá hèn ,kém..!
Khải Hoàn