Giảm nghèo bền vững: Thành tựu 35 năm đổi mới của Thủ đô

tháng 12 28, 2020 |

  


Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta giờ đây là một trong những điểm sáng trên thế giới về thành tựu xóa đói, giảm nghèo, một trong số các địa phương đi tiên phong với trách nhiệm và tầm nhìn đó chính là Thủ đô ngàn năm văn hiến. Đặc biệt giai đoạn 2016-2020 vừa qua, Hà Nội đã hỗ trợ giảm nghèo thông qua hàng loạt những chính sách ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội vùng khó khăn, tạo giá đỡ an sinh, trao sinh kế cho người nghèo, người yếu thế... Với những kết quả ấn tượng đó không chỉ tiếp thêm động lực cho những trường hợp có hoàn cảnh khó khăn vươn lên, mà còn tạo đà để Thủ đô giảm nghèo bền vững trong những năm tới.

 

Với mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau, thời gian qua, TP Hà Nội đã tập trung nhiều nguồn lực cho công tác giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Nhờ đó, thành phố đã hoàn thành chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo trước thời hạn hai năm, cơ bản không còn hộ nghèo gặp khó khăn về nhà ở, không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện.

 

Nếu như đầu năm 2016, thành phố có 65.377 hộ nghèo, chiếm 3,64% tổng số hộ dân. Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo của Hà Nội thấp (xếp thứ 4, sau ba tỉnh, thành phố không còn hộ nghèo là: TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai), tuy nhiên số hộ nghèo của Hà Nội cao thứ 36 trong số 63 tỉnh, thành phố (cao hơn các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng như: Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Nam Định, Hà Nam, Bắc Ninh....). Hộ nghèo tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, chiếm hơn 90% tổng số hộ nghèo của thành phố. Đặc biệt, Hà Nội có 14 xã miền núi, vùng thiểu số, trong đó có hai xã thuộc diện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (xã An Phú của huyện Mỹ Đức và xã Ba Vì của huyện Ba Vì).

 

Thực hiện Chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020, TP Hà Nội luôn nhất quán quan điểm hỗ trợ người nghèo vươn lên dựa theo nhu cầu, hoàn cảnh, khả năng của từng cá nhân và gia đình. 5 năm gần đây, TP Hà Nội đã hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà cho hơn 5.600 hộ nghèo, cận nghèo. Thành phố đã yêu cầu các ngành, địa phương thực hiện đồng bộ những giải pháp trợ giúp người nghèo và đối tượng yếu thế. Chuẩn nghèo của Hà Nội cũng được điều chỉnh theo hướng tăng cao, tạo điều kiện mở rộng đối tượng có hoàn cảnh khó khăn được hưởng chính sách hỗ trợ.

 

Từ năm 2016 đến nay, chuẩn nghèo trên địa bàn Hà Nội là 1,1 triệu đồng/người/tháng ở nông thôn và 1,4 triệu đồng/người/tháng ở thành thị. Thành phố trợ cấp thường xuyên 350 nghìn đồng/người/tháng tới 5.000 người già yếu không có khả năng tự phục vụ, người mắc bệnh hiểm nghèo không có khả năng lao động thuộc hộ nghèo. Đồng thời, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí tới người nghèo, người cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người mù có hoàn cảnh khó khăn và người mắc bệnh phong. Các đối tượng này cũng được vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh với mức phí ưu đãi. Hiện đã có hơn 500 tỷ đồng được giải ngân.

 

Nhờ đó, công tác giảm nghèo tại Thủ đô đã thu được những kết quả tích cực. Nếu như năm 2016, thành phố có hơn 65 nghìn hộ nghèo (chiếm 3,64% tổng dân số) thì đến cuối năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo còn 1,16%. So với mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 1,2% vào cuối năm 2020 trong chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020, thành phố đã về đích sớm hai năm. Đến tháng 6-2020, số hộ nghèo ở Hà Nội chỉ còn chiếm tỷ lệ 0,42%. Đáng chú ý, thành phố có 10 quận, huyện, gồm: Ba Ðình, Cầu Giấy, Tây Hồ, Thanh Xuân, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Nam Từ Liêm, Hà Ðông, Ðông Anh, Gia Lâm không còn hộ nghèo. Trong đó, quận Cầu Giấy và Hai Bà Trưng hiện không còn hộ nghèo và cận nghèo.

 

Từ năm 2016 đến nay, toàn thành phố đã hỗ trợ đào tạo nghề cho gần 75.000 lao động thuộc các đối tượng chính sách. Sau học nghề, 88,45% lao động có việc làm mới hoặc vẫn làm nghề cũ, nhưng có thu nhập cao hơn. Cùng với công tác hỗ trợ đào tạo nghề, nhóm lao động đặc thù này còn được hỗ trợ về công cụ, phương tiện sản xuất và được tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi, với tổng số vốn vay gần 2.400 tỷ đồng. Những hộ nghèo gặp khó khăn về nhà ở đã được hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà. Giai đoạn 2016-2020, toàn thành phố đã hỗ trợ xây dựng, sửa chữa được 7.565 nhà ở cho hộ nghèo. Đặc biệt, thành phố đã hỗ trợ hơn 500.000 người bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, với tổng kinh phí hơn 600 tỷ đồng.

 

Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp đã giúp các hộ nghèo có điểm tựa để vươn lên. Do vậy, dù chuẩn nghèo cao hơn chuẩn chung của cả nước nhưng công tác giảm nghèo của Hà Nội vẫn đạt kết quả khả quan, bảo đảm tính bền vững. Trong giai đoạn 2016-2019, toàn thành phố có hơn 67.000 hộ thoát nghèo, đưa tỷ lệ hộ nghèo ở Hà Nội giảm từ 3,64% vào đầu năm 2016, xuống còn 0,42% vào cuối năm 2019, về đích trước 2 năm so với kế hoạch. Hiện, Hà Nội cơ bản không còn hộ nghèo (trừ người nghèo thuộc đối tượng bảo trợ xã hội, không có khả năng tự thoát nghèo).

 

Các chính sách, giải pháp hỗ trợ giảm nghèo được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ, hiệu quả, công khai, minh bạch. Đáng chú ý là chính sách hỗ trợ 100% hộ nghèo tiếp cận truyền hình số mặt đất được thực hiện từ năm 2016. Dù công tác giảm nghèo tạo dấu ấn rõ nét, song tỷ lệ giảm nghèo ở Hà Nội nhanh, nhưng chưa thật sự bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao. Chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị chậm cải thiện…

 

Đây là thách thức không nhỏ, vì thế Thủ đô phải thực hiện đồng bộ giải pháp cho cả trước mắt và lâu dài. Theo đó, trước mắt, các cấp, ngành, địa phương cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách đặc thù, những nguồn lực mà thành phố đang hỗ trợ để làm tốt hơn nữa công tác giảm nghèo. Những nguồn lực cho công tác này phải được phân bổ đúng đối tượng, minh bạch, sử dụng hiệu quả, đúng mục đích...

 

Về lâu dài, thành phố tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng cho những vùng, miền còn nhiều khó khăn nhằm tăng cường kết nối giao thương; gắn xây dựng nông thôn mới với giảm nghèo... Mấu chốt nhất của giảm nghèo bền vững là phải tạo thêm được nhiều việc làm mới, giúp người dân nâng cao thu nhập. Điều này đòi hỏi các cấp ủy, chính quyền phải làm tốt việc định hướng phát triển nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương.

 

Giai đoạn 2021-2025, xã hội sẽ phát triển theo những nấc thang mới, đòi hỏi việc tạo sinh kế, chính sách an sinh xã hội cho người nghèo, người yếu thế cũng phải thay đổi phù hợp. Do đó, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu thêm nguồn lực để “tiếp sức” cho người nghèo có điểm tựa vươn lên; huy động nhiều hơn nữa sự tham gia của toàn xã hội vào công tác này.

 

Với những giải pháp đồng bộ đã, đang và tiếp tục triển khai, mục tiêu không còn hộ nghèo và hộ tái nghèo theo tiêu chuẩn của thành phố Hà Nội chắc chắn sẽ trở thành hiện thực.

 

                                                                                                     Bông Lau

Read more…

Trung Quốc sẽ thế nào nếu vượt Mỹ vào năm 2028?

tháng 12 27, 2020 |

 

Mới đây, một viện nghiên cứu ở Anh trong một nghiên cứu đã dự báo, Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2028, sớm hơn năm năm so với ước tính trước đây.

Dự báo trên được đưa ra dựa trên nhận định, “Đại dịch COVID-19 và thảm họa kinh tế tương ứng chắc chắn đã nghiêng sự cạnh tranh này về phía có lợi cho Trung Quốc”. Theo đó, nghiên cứu trên cho rằng việc quản lý khéo léo đại dịch, với việc phong tỏa nghiêm ngặt sớm, và những tác động đến tăng trưởng dài hạn ở phương Tây đã giúp thành tích kinh tế của Trung Quốc được cải thiện hơn so với Mỹ.

Nghiên cứu trên đưa ra nhận định, Trung Quốc dự kiến đạt mức tăng trưởng kinh tế trung bình là 5,7% một năm từ năm 2021-25, sau đó chậm xuống mức 4,5% một năm từ năm 2026-30. Đối với Mỹ, dù Mỹ có phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch vào năm 2021 thì tốc độ tăng trưởng của nước này sẽ chậm xuống mức 1,9% một năm từ năm 2022 đến năm 2024, và 1,6% những năm sau đó.

Cũng theo dự báo trên, Nhật Bản sẽ vẫn là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, tính theo đồng đôla, cho đến đầu những năm 2030 khi nước này bị Ấn Độ qua mặt, đẩy Đức từ vị trí thứ tư xuống thứ năm. Vương quốc Anh, hiện là nền kinh tế lớn thứ năm theo đo lường của CEBR, sẽ tụt xuống vị trí thứ sáu từ năm 2024.

Những dự báo về viễn cảnh nền kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Mỹ để trở thành nền kinh tế số một thế giới trong thế kỷ XXI đã được nhiều người đề cập. Tuy nhiên, nếu nói rằng vào năm 2028, kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Mỹ thì có lẽ chưa nhiều người dám đề cập. Bản thân Trung Quốc họ cũng chỉ dám đặt ra mục tiêu, vào năm 2049, tức là tròn 100 năm thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa họ sẽ trở thành “cường quốc” thế giới, xây dựng thành công mục tiêu một nước xã hội chủ nghĩa Trung Quốc “hiện đại, vĩ đại”.

Tuy nhiên, với những diễn biến gần đây tại hai nền kinh tế này có thể thấy rằng, dự báo cho rằng, kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2028 là hoàn toàn có cơ sở. Nước Mỹ đang phải đối mặt với khủng hoảng, nhất là trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đã và đang gây ra những thiệt hại rất lớn cho quốc gia này. Cùng với đó, những chia rẽ trong lòng xã hội Mỹ hậu bầu cử cho thấy, Mỹ chưa thể phục hồi kinh tế một cách nhanh chóng trong những năm tiếp theo.

Trong khi đó, Trung Quốc vẫn cho thấy đà tăng trưởng nhanh sau khi khống chế thành công đại dịch COVID-19 và những chính sách phục hồi kinh tế đang phát huy hiệu quả. Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã khiến kinh tế Trung Quốc bị ảnh hưởng, tuy nhiên với việc tổng thống Mỹ Donad Trump thất bại trong cuộc bầu cử vừa qua có thể khiến Trung Quốc “dễ thở” hơn.

Viễn cảnh Trung Quốc trở thành nền kinh tế số một thế giới không còn xa. Lúc này là lúc mà người ta sẽ dự đoán rằng, Trung Quốc sẽ làm gì và dẫn dắt thế giới như thế nào khi thay thế vai trò của Mỹ.

Ngay lúc này đã có nhiều nhận định cho rằng, khi nền kinh tế Trung Quốc vượt Mỹ, thế giới sẽ lâm nguy vì đến lúc đó, Trung Quốc chắc chắn sẽ hung hăng nhiều hơn bây giờ và sẽ cương quyết tuyên bố thêm chủ quyền phi pháp ở nhiều nơi trên thế giới bằng cách dùng kinh tế áp đặt các nước phải chấp nhận để Trung Quốc thâu tóm. Nhìn lại trước đây khi Trung Quốc vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế thứ nhì thế giới, Trung Quốc liền ra tay hùng hỗ mọi mặt, muốn thay đổi quy luật thế giới và tìm mọi cách lật đổ Mỹ để lên ngôi.

Có thể thấy rằng, việc Trung Quốc vượt Mỹ về kinh tế để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới không còn xa. Khi Trung Quốc là số một thế giới liệu thế giới có được “dễ thở” hay không?

Việt Nguyễn

Read more…

ĐẶC KHU KINH TẾ MANG LẠI LỢI ÍCH GÌ CHO VIỆT NAM?

tháng 6 15, 2018 |


Liên quan đến dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, đã có rất nhiều bài viết phân tích về vấn đề này. Vì vậy, trong bài viết này, cá nhân người viết chỉ đưa ra vài suy nghĩ của mình về vấn đề các đặc khu kinh tế Việt Nam.

Đặc khu kinh tế Việt Nam, một từ vừa quen thuộc trong 20 năm qua nhưng cũng vừa rất xa lạ vì lúc xuất hiện từ này rộ lên một thời gian rồi lại âm thầm biến mất… Gần đây “đặc khu kinh tế” dường như lại xuất hiện trở lại với ba địa danh kèm theo là Văn Đồn (Quảng Ninh). Bắc Văn Phong (Khánh Hòa), Phú Quốc (Kiên Giang).

Cảng Cái Rồng có vai trò quan trọng trong đặc khu kinh tế Vân Đồn

Đất nước trong suốt 30 năm đổi mới, chúng ta thường nghe nói đến khu chế xuất, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu dân cư mới, khu đô thị mới, khu kinh tế biển, khu kinh tế tự do và gần đây là đặc khu kinh tế… Có khu tên gọi gắn với công năng cụ thể như khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu dân cư mới, khu đô thị mới. Nhưng cũng có những tên gọi nhưng chưa thấy được hình hài, nên cũng không biết nó sẽ là gì.

Tuy nhiên, tất cả tên gọi đó cũng nhằm chỉ một “công cụ” mà qua công năng của “công cụ” này sẽ đưa đến mục tiêu của người tạo ra nó đồng thời đem lại lợi ích cho người tham gia vào sân chơi do nó tạo ra. Nói cho dễ hiểu, sự tồn tại của các khu này dựa trên hai yếu tố: đạt mục tiêu của chủ thể sinh ra nó và khách thể tham dự vào. Công cụ này trong từ ngữ học thuật kinh tế được gọi là “Định chế”.

Trên cơ sở nhận thức như vậy thì tiền đề đặt ra là: Việt Nam cần gì ở đặc khu kinh tế và doanh nghiệp hưởng lợi gì khi tham dự vào đề án này ở các hình thức khác nhau. Và một điều tối quan trọng nữa cần đặt ra là nhân dân Việt Nam được lợi gì kể cả những người không có điều kiện trực tiếp tham dự vào công cuộc làm ăn ở đây và phải chấp nhận những thiệt thòi nhất thời hữu hình hay vô hình do “công cụ” đó gây ra.

Để tạo ra những chính sách đặc thù cho mỗi “công cụ” chúng ta phải dựa vào bốn yếu tố cơ bản, mỗi “công cụ” đều có mục tiêu rất rõ ràng (khu chế xuất khác với khu công nghiệp, và cũng khác khu kỹ thuật cao, càng khác khu kinh tế tự do v.v…). Từ đó thấy được rõ hơn đối tượng thu hút đầu tư của mỗi “công cụ”. Tiếp theo đó, với mục tiêu cụ thể và nhóm đối tượng thu hút đầu tư cụ thể, chúng ta có thể chọn ra vị trí (địa phương) nào có ưu thế nhất; vị trí có xác suất thành công cao nhất cho từng bài toán, cho từng công cụ. Đây chính là cách làm khoa học nhất, hợp lý nhất để tránh thất bại do thiếu hiểu biết đối với việc xây dựng một “công cụ” kinh tế nào đó. Cuối cùng sự thành bại còn tùy thuộc vào con người thực hiện nhưng điều này ai cũng biết nên không phải luận bàn thêm.

Các yếu tố nói trên, là không thể thiếu nhưng khi vận hành thì thứ tự cũng như tính trọng yếu của các yếu tố đều phải linh hoạt theo tình thế và theo từng giai đoạn mục tiêu cụ thể. Điều này trả lời câu hỏi tại sao có những “công cụ” đạt được thành quả to lớn hoặc khiêm tốn, thậm chí có công cụ phải sớm “hoàn thành nhiệm vụ lịch sử” (vì không còn phát triển nữa hoặc lỗi thời).

Nhìn lại quá khứ, chúng ta cũng đã tạo ra được nhiều “công cụ” như khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu đô thị mới… trong số này có nhiều khu đã trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội cho nhiều tỉnh thành trong cả nước. Nổi bật nhất là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bắc Ninh, Vĩnh Phú… với những mô hình thành công nhờ thỏa mãn các yếu tố nêu trên ở một mức độ nhất định.

Nền kinh tế nước ta hiện nay, đã có một bước phát triển dài về mặt số lượng cũng như hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, đây là một yếu tố thuận lợi. Tuy nhiên trong hơn 30 năm mở cửa thu hút đầu tư vừa qua, chúng ta vẫn chưa hình thành một ngành công nghiệp cơ bản đủ tầm đứng vững trên thị trường thế giới. Công nghiệp chúng ta mới chỉ ở giai đoạn gia công, chưa bước qua giai đoạn “bắt chước” (mua pa-tăng để tự chủ sản xuất), càng chưa đến giai đoạn có thể tự sáng tạo ra sản phẩm mới vượt trội. Đó là nhược điểm lớn nhất, thiếu sót lớn nhất của giai đoạn đổi mới vừa qua.

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm phát triển các mô hình đặc khu kinh tế của các nước trên thế giới, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Ta thấy đặc khu kinh tế Thẩm Quyến (Trung Quốc), 8 khu kinh tế tự do của Hàn Quốc, hay như động lực giúp Singapore trở thành “con rồng” Châu Á chính là 9 khu thương mai tự do, hay như Trung tâm tài chính quốc tế Dubai, khu tự do Jebel Ali (Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất)…sẽ càng làm chúng ta tin tưởng vào sự thành công của mô hình đặc khu kinh tế.

Do đó, nếu xây dựng “đặc khu kinh tế Việt Nam” với mục tiêu chiến lược vĩ mô thì trước hết phải vừa khắc phục các nhược điểm hiện nay trong nền sản xuất và vừa nắm bắt thời cơ của thời thế mới. “Đặc khu kinh tế Việt Nam” sẽ mở màn cho cuộc đổi mới lần thứ hai. Biết đâu qua thành công của những đặc khu này, 30 năm sau chúng ta sẽ vươn lên thành một nước công nghiệp phát triển thật sự, sản xuất ra sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Đó cũng là ước mơ của mọi người Việt Nam chúng ta.

                                                                                                       Bông Lau

Read more…