NHỮNG ĐIỂM TỰ HÀO VỀ VIỆT NAM HIỆN NAY

tháng 10 09, 2013 |

1


          Lan Anh

CNXH có ưu việt không? Xin trả lời cả về lý luận và thực tiễn , CNXH đều ưu việt hơn các thế hệ khác nói chung, chế độ TBCN nói riêng. Tại Đại hội XI của Đảng, đồng chí Lê Hữu Nghĩa – Ủy viên TW Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh  trong tham luận của mình đã trình bày về những đặc trưng thể hiện tính ưu việt của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng trong hiện nay. Những đặc trưng ấy bao gồm: một là, dân giàu – nước mạnh – dân chủ - công bằng – văn minh; hai là, do nhân dân làm chủ; ba là, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; bốn là, có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; năm là, con người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; sáu là, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; bảy là, có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Tuy nhiên, theo tôi, nước ta hiện nay đang ở trong giai đoạn quá độ lên CNXH, cho nên đó vừa là những đặc trưng nhưng cũng vừa là mục tiêu mà nhân dân ta đang xây dựng và hướng tới. Vì vậy, khi nói về những ưu việt của CNXH ở Việt Nam hiện nay, cần phải nhìn vào thực tiễn Việt Nam, cụ thể là:

Về chính trị, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện và duy nhất của Đảng cộng sản Việt Nam, nước ta được đánh giá là một trong số những nước có tình hình chính trị ổn định, có môi trường hòa bình để phát triển kinh tế, khác hẳn với một số nước khác theo TBCN.

Về kinh tế, mặc dù Việt Nam còn nằm trong số những nước đang phát triển có thu nhập trung bình, nhưng từ sau khi tiến hành đổi mới, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (năm 2006 đạt 8,23%; năm 2007 đạt 8,46% và năm 2012 là 5,03%); GDP bình quân đầu người tăng từ 730 USD năm 2006 lên 1168 USD năm 2010 và năm 2012 là 1540 USD… Như vậy, Việt Nam không chỉ đã thoát nghèo mà còn đang từng bước vươn lên mạnh mẽ về kinh tế, lực lượng sản xuất được quan tâm đào tạo nâng cao trình độ, từng bước làm chủ khoa học công nghệ, máy móc kỹ thuật mới tiên tiến, hiện đại.

Về văn hóa, với tinh thần không ngừng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời đẩy mạnh quảng bá văn hóa Việt Nam với thế giới, nhằm mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của Việt Nam đã được bảo tồn và phát huy. Đó chính là tinh thần yêu nước, độc lập tự cường, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc, không ít trong số đó đã trở thành di sản văn hóa của nhân loại.

Về xã hội, tuy nền kinh tế còn khó khăn nhưng Việt Nam vẫn luôn quan tâm đầu tư cho phúc lợi xã hội, không ngừng xây mới và nâng cấp, hiện đại hóa các công trình điện, đường, trường, trạm… phục vụ dân sinh. Chúng ta cũng rất tự hào vì theo báo cáo mới đây của Liên hợp quốc về chỉ số hạnh phúc, Việt Nam tuy kinh tế còn phát triển chưa cao nhưng đã được xếp hạng 63/156 nước, hơn cả một số nước có nền kinh tế phát triển hơn như: Ấn Độ, Brazil, Nam Phi…

Về vấn đề đảm bảo các quyền tự do dân chủ, quyền công dân cũng luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm. Nhân dân được làm chủ nhà nước và xã hội; các dân tộc đều bình đẳng, trong đó ưu tiên phát triển các dân tộc thiểu số hiện còn đang gặp khó khăn trên cơ sở thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc. Các tôn giáo được phát triển bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật, không phân biệt lương – giáo… Các quyền tự do, bình đẳng của người dân được tôn trọng và bảo đảm thực hiện, khác hẳn với các kiểu chế độ khác.

Như vậy, CNXH là một mô hình xã hội ưu việt và nhân dân ta đang xây dựng. Lựa chọn con đường đi lên CNXH đã thể hiện sự sáng suốt của Đảng và nhân dân ta, phù hợp với yêu cầu lịch sử và thực tiễn tình hình xã hội Việt Nam, với nguyện vọng của nhân dân.
Read more…

Vai trò của Liên Hợp Quốc với vấn đề Syria

tháng 10 09, 2013 |

images670059_2


Sau khi Mỹ, Nga và Liên Hợp Quốc đã thông nhất việc Syria sẽ giao nộp kho vũ khí hóa học của mình dưới sự giám sát của Liên Hợp Quốc, các nước đã thống nhất được một lộ trình để phá hủy kho vũ khí đó; điều này đã mang tới một cơ hội may mắn giúp người dân Syria tạm thời tránh được một cuộc can thiệp bằng quân sự của Mỹ và các nước phương Tây. Nhìn lại quá trình xảy ra cuộc nội chiến tại Syria tới nay, chúng ta thấy vai trò của Liên Hợp Quốc thực sự chưa được thể hiện nhiều nếu như không nói là mờ nhạt. Những biện pháp Liên Hợp Quốc đã làm chủ yếu mang tính chung chung, không làm giảm bạo lực cũng như ổn định tình hình tại Syria. Phát biểu trước Hội Đồng Liên Hợp Quốc, ngài Tổng Thu ký cũng đã có những phát biểu liên quan đến vấn đề Syria; trong đó, chủ yếu là sự lên án các hành vi bạo lực nhằm vào dân thường Syria; kêu gọi các bên liên quan giảm các hoạt động bạo lực nhằm vào dân thường… Bên cạnh đó, khi xảy ra vụ việc sử dụng vũ khí hóa học trong cuộc chiến giữa quân đội chính phủ và quân nổi dậy, các thanh sát viên Liên Hợp Quốc chỉ đưa ra khẳng định rằng cuộc chiến có sử dụng vũ khí hóa học và không đưa ra kết luận bên nào đã làm điều đó. Kết luận trên của Liên Hợp Quốc không những không giải đáp cho những người quan tâm sự thật của vấn đề mà nó còn khiến vấn đề Syria có thể lâm vào những cuộc khủng hoảng mới dai dẳng hơn. Những hành động của Liên Hợp Quốc như thế là chưa đủ. Căn cứ vào quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc, vai trò của Liên Hợp Quốc trong các sự việc như vậy cần phải nhiều hơn. Cụ thể:

Khoản 1. Điều 1: “Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, và để đạt được mục đích đó: tiến hành những biện pháp tập thể có hiệu quả nhằm ngăn ngừa và loại trừ các mối đe dọa hòa bình, nhằm trừng trị mọi hành vi xâm lược và phá hoại hòa bình khác, điều chỉnh hoặc giải quyết các tranh chấp quốc tế hoặc những tình huống có thể dẫn đến sự phá hoại hòa bình, bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với các nguyên tắc của công lý và pháp luật quốc tế”.

Xét thấy, vai trò, trách nhiệm của Liên Hợp Quốc là vô cùng quan trọng trong việc duy trì hòa bình thế giới. Nhưng trong những sự việc quan trọng như sự việc xảy ra tại Syria thời gian qua thì vai trò của Liên Hợp Quốc là chưa nổi bật. Cần một Liên Hợp Quốc có những kết luận, cách giải quyết cụ thể hơn mới mong giải quyết được cuộc nộ chiến tại Syria; mới đảm bảo được cuộc sống hòa bình cho người dân. Nếu Liên Hợp Quốc cứ hành động như bây giờ, khả năng cuộc nội chiến tại Syria sẽ ngày càng lâm vào khủng hoảng, bế tắc và trì trệ kéo dài.

                                                                        Việt Khánh 

 

 

 
Read more…

Vững tin vào chủ trương giải quyết tranh chấp biển Đông của Đảng

tháng 10 07, 2013 |
4

Việt Dũng

Trong diễn biến phức tạp của tình hình tranh chấp trên biển Đông, đặc biệt là những hành động gây hấn của Trung Quốc, Đảng và nhà nước ta chủ trương bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia trên cơ sở giải quyết bằng giải pháp hòa bình thông qua đàm phán ngoại giao trên tinh thần xây dựng dựa vào các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc, công ước về luật biển năm 1982. Tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) năm 2002.

Đảng và Nhà nước ta cụ thể hóa chủ trương trên bằng các hành động cụ thể. Ra sức bảo vệ các chứng cứ về chủ quyền Việt Nam trên 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình của nhân dân thế giới và nhân dân các nước trong khu vực dựa trên các cơ sở pháp lý. Một mặt chúng ta khéo léo xử lý những tranh chấp một cách mềm dẻo, linh hoạt tránh làm căng thẳng thêm tình hình khu vực, ổn định tình hình trong nước qua việc xử lý những vụ biểu tình trong nước.

Mặt khác, chúng ta tích cực hợp tác với các nước trong khu vực để tìm tiếng nói chung, cùng tìm ra giải pháp giải quyết và mục tiêu trước hết là đoàn kết giữa các nước trong vấn đề tranh chấp biển Đông trước sự gây hấn ngày càng hung hăng của Trung Quốc. Việc hợp tác không chỉ trên lĩnh vực ngoại giao mà còn trên nhiều lĩnh vực khác. Vì Đảng và Nhà nước ta hiểu rõ ảnh hưởng, tổn thất mà chiến tranh gây ra cho nhân dân ta trong hai cuộc chiến tranh cứu quốc.

Tuy nhiên, không chỉ thể giải quyết vấn đề trên bằng con đường ngoại giao, mặt khác chúng ta tích cực tăng cường tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ.

Không chỉ vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn cảnh giác trước các chủ trương mà phía Trung Quốc đưa ra. Không tiến hành “đàm phán song phương” hay “gác tranh chấp cùng khai thác” mà chủ trương “quốc tế hóa vấn đề tranh chấp biển Đông” đẻ nhận sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước trong khu vực và nhân dân thế giới.

Việc giải quyết vấn đề biển Đông mà Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện không phải là sự nhu nhược, yếu hèn như các trang phản động nêu ra mà chủ trương của Đảng và Nhà nước đề ra dựa trên cơ sở pháp lý quốc tế và tình hình thực tiễn đất nước, tiềm lực đất nước còn thiếu và yếu. Đồng thời thể hiện sự bình tĩnh, sáng suốt của Đảng và Nhà nước chứ không nóng giận mất khôn mà gây ra những hậu quả khôn lường.
Read more…

Những ưu việc của Việt Nam nhìn từ lý luận và thực tiễn

tháng 10 07, 2013 |

e07ce-tnvn


Thanh Huyền

Tại Việt Nam, từ năm 1930 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, độc lập dân tộc luôn gắn liền với CNXH. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Việc lựa chọn xây dựng nước ta theo mô hình CNXH là một lựa chọn đúng đắn và sáng suốt của Đảng. Lý luận và thực tiễn đã chứng minh tính ưu việt của CNXH ở Việt Nam.

Một là, CNXH là chế độ do dân làm chủ, mang tính dân chủ cao

Dân chủ là một trong những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước, được thể hiện sinh động trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, từ kinh tế đến chính trị, từ văn hóa đến xã hội, từ thể chế đến chính sách. Dân chủ XHCN là thành quả đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chống ách áp bức bóc lột của CNTB, thực hiện quyền tự quyết của dân tộc. Đó là quyền tự do chính trị, quyền dân chủ và quyền làm chủ của những người tự do, thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội trong sự phát triển cho tất cả mọi người.

Nhân dân (bao gồm đông đảo các giai cấp, tầng lớp dân cư, các dân tộc, tôn giáo…) làm chủ thông qua các hình thức dân chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp, thông qua việc thực hiện các Quy chế dân chủ và Pháp lệnh dân chủ cơ sở… cũng đã thể hiện tính ưu việt và chế độ chính trị của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng.

Hai là, mục tiêu của CNXH là làm cho dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh

Đối với dân tộc Việt Nam, chỉ có CNXH mới đảm bảo cho dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh thực sự. Đây là khát vọng tha thiết của toàn thể nhân dân Việt Nam sau khi đất nước giành được độc lập và thống nhất Tổ quốc.

Trong thời gian dài bị chủ nghĩa thực dân, đế quốc xâm lược, nhân dân ta đã từng chứng kiến bản chất áp bức, bóc lột, bất công, tàn bạo của CNTB. CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng là quá trình dân chủ hóa, phát huy mọi quyền dân chủ của nhân dân, đồng thời hướng tới những giá trị công bằng cho mọi tầng lớp, mọi người dân, xây dựng xã hội Việt Nam thành một xã hội văn minh, hiện đại.

Ba là, CNXH có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại là chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu

Về lực lượng sản xuất của xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng không thể là cái gì khác ngoài lực lượng sản xuất hiện đại với khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, gắn với phát triển kinh tế tri thức. Về quan hệ sản xuất không thể không tính đến yếu tố quan trọng hàng đầu là chế độ sở hữu. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH việc xác định chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu thể hiện tính ưu việt của CNXH mà chúng ta đang xây dựng. Trong xã hội tư bản, chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN giữ vai trò thống trị củ quan hệ sản xuất; là cơ sở nảy sinh những bất bình đẳng về kinh tế và áp bức về xã hội. Bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất TBCN, từng bước xây dựng mối quan hệ sản xuất mới dựa trên cơ sở của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu thể hiện rõ tính ưu việt của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng so với chế độ TBCN.

Bốn là, thực tiễn thành quả cách mạng XHCN mang lại

Sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã kiên định xây dựng và bảo vệ mục tiêu XHCN và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện. Cùng với tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, các mặt: chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh được đảm bảo và ổn định. Trong đó có những thành tựu rất đáng khích lệ về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội gắn bó chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế, phát triển nguồn lao động và chất lượng lao động, khoa học và công nghệ.

Mô hình về CNXH theo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) là kết quả của sự liên tục bổ sung, phát triển, hoàn thiện thao tinh thần gắn với thực tiễn Việt Nam, thế giới và sáng tạo của Đảng đã làm cho xã hội XHCN đúng với bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế thời đại và điều kiện thực tế, bảo đảm từng bước đi vững chắc của quá trình xây dựng CNXH ở nước ta.

 
Read more…

CÔNG LAO TO LỚN CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

tháng 10 07, 2013 |

6

Viễn

Trong thời khắc đau thương tiễn biệt linh hồn đại tướng Võ Nguyên Giáp về với các bậc tiền bối, là một người Việt Nam thuộc thế hệ con cháu của Bác, sinh ra và lớn lên dưới bầu trời độc lập, tự do mà chính do những người như Đại tướng mang lại, Viễn tôi không biết làm gì hơn để tỏ lòng thành kính với người. Bằng tất cả sự kính trọng, Viễn xin mạn phép điểm lại một số công lao to lớn đối với dân tộc gắn với cuộc đời hoạt động cách mạng không ngừng nghỉ của đại tướng.

Mười bốn tuổi, ở cái tuổi mà nếu như chúng tôi bây giờ thì còn chưa biết lo, biết nghĩ, đại tướng đã bắt đầu hoạt động cách mạng (1925). Năm 1929, đại tướng tham gia cải tổ Tân Việt Cách Mạng Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Năm 1930, đại tướng bị thực dân Pháp bắt giữ và bị giam ở nhà lao Thừa phủ (Huế) vì tham gia các cuộc biểu tình chống Pháp. Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế đỏ của Pháp, Đại tướng được thả tự do. Đại tướng hoạt động đấu tranh cách mạng trên mặt trận văn hóa, viết bài cho những tờ báo công khai hồi đó như Tin Tức, Nhân Dân, Tiếng nói của chúng ta, Lao động; làm biên tập viên cho các báo của Đảng; dạy Sử - Địa ở trường tư thục Thăng Long. Từ năm 1936-1939, phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương lên cao, ông là một trong những sáng lập viên của Mặt trận và là Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội.

Năm 1939, đại tướng với bí danh là Dương Hoài Nam cùng với Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được sự dìu dắt của Người, đại tướng vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940. Tháng 5 năm 1941, trở về Cao Bằng, dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đại tướng cùng các cán bộ cao cấp khác xây dựng cơ sở cách mạng, lập ra Mặt trận Việt Minh, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng.

Năm 1942, đại tướng phụ trách ban "Xung phong Nam tiến’’. Tháng 12-1944, đại tướng được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trao nhiệm vụ thành lập đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân. Ngày 22-12-1944, tại một khu rừng ở Châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ủy nhiệm đại tướng đứng ra tuyên bố thành lập đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân (tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày nay) với 34 người. Cuối tháng 3-1945, đại tướng đưa đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân tiến xuống phía Nam, hội quân với đội Cứu Quốc quân của Chu Văn Tấn ở vùng chợ Chu, Thái Nguyên để thống nhất tổ chức thành Việt Nam Giải Phóng Quân. Chính đại tướng đã đóng góp một công sức lớn trong cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 lập nên nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa.

Tháng 8-1945, đại tướng được cử làm Ủy viên Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, làm tổng chỉ huy các đội Việt Nam Giải Phóng Quân và Ủy viên Ban chỉ huy lâm thời khu Giải phóng Việt Bắc. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II (1945) bầu đại tướng vào Ban chấp hành Trung ương và làm Ủy viên Thường vụ Trung ương. Đại tướng tham gia Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam, làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Phó Bộ trưởng (nay gọi là Thứ trưởng) Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời (từ ngày 28 tháng 8 đến hết năm 1945) và là Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ. Trong Chính phủ Liên hiệp thành lập ngày 3 tháng 11 năm 1946, đại tướng là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (cho đến tháng 7 năm 1947 và từ tháng 7 năm 1948 trở đi).

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ. Dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản, đại tướng bắt đầu lãnh đạo cuộc đấu tranh vũ trang kéo dài 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) với cương vị Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng tư lệnh Quân đội kiêm Bí thư Tổng Quân uỷ. Ngày 25 tháng 1 năm 1948, đại tướng được phong Đại tướng theo Sắc lệnh 110/SL ký ngày 20 tháng 1 năm 1948. Tháng 8 năm 1948, đại tướng là Ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập.

Tháng 6-1950, theo Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Đảng chấn chỉnh tổ chức thành Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh, đại tướng giữ chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh, Tổng Chính ủy Bí thư Quân ủy Trung ương. Đại tướng liên tục đảm nhiệm những chức vụ trên trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945-1975).

Trong 21 năm (1954-1975) của cuộc Chiến tranh Việt Nam, đại tướng thực hiện nhiệm vụ xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam, tham gia xây dựng chiến lược chiến tranh của Việt Nam, trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động của Quân đội Nhân dân trong chiến tranh. Ngoài ra, đại tướng còn tham gia nhiều hoạt động Đảng cộng sản và Nhà nước khác.

Trong một thời gian ngắn từ tháng 7 năm 1960 đến tháng 1 năm 1963, đại tướng kiêm thêm chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước. Năm 1980, đại tướng thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng vẫn tiếp tục là Ủy viên Bộ Chính trị (đến năm 1982) và Phó Thủ tướng phụ trách Khoa học - Kỹ thuật.

Là một người có tài tổ chức, đại tướng đã từng bước xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam từ 34 người vào tháng 12 năm 1944 thành một đội quân với hơn một triệu người năm 1975. Là một nhà chiến lược - chiến thuật bậc thầy, đại tướng đã từng bước lãnh đạo quân đội và nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Tên tuổi của đại tướng gắn liền với nhiều chiến thắng có ý nghĩa quốc tế của Quân đội Nhân dân Việt Nam như Chiến dịch Biên giới, chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, chiến dịch Hồ Chí Minh. Với hơn 50 năm tham gia hoạt động chính trị ở cấp cao nhất, trong đó có 30 năm là Tổng Tư lệnh Quân đội, đại tướng có uy tín lớn trong Đảng Cộng sản Việt Nam, trong quân đội và trong nhân dân, được coi là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là Người anh cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Uy tín của Đại tướng tỏa rộng trong nước và ngoài nước. Ngoài ra đại tướng còn là một tấm gương về dạo đức cách mạng trong sáng, cần kiệm, liêm, chính, chí, công vô tư.

Với những đóng góp to lớn đó đại tướng đã được vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương cao quý như Huân chương Sao vàng, hai huân chương Hồ Chí Minh, Hai Huân chương Quân công hạng nhấ; Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng, và nhiều huân chương, phần thưởng cao quý khác…


Có lẽ thật khó để có thể diễn tả hết công lao trời bể của đại tướng. Cầu mong cho linh hồn của Đại tướng luôn được thanh thản bên các bậc tiền nhân và tiếp tục phù hộ cho quốc thái, dân an.

 

Read more…

TỰ DO TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO NHÌN TỪ CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ VỤ NGHI PHƯƠNG, NGHI LỘC, NGHỆ AN

tháng 10 07, 2013 |

dan


Kinh Kha

Tự do tín ngưỡng tôn giáo là quyền con người được quốc tế ghi nhận từ lâu. ở nước ta, xuyên suốt các hiến pháp từ năm 1946, năm 1959,năm 1980 và hiến pháp 1992( kể cả dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992,quốc hội đang xin ý kiến toàn dân) quyền này đã được trân trọng ghi nhận. đảng và nhà nước ta luôn quan tâm và có chính sách đảm bảo phát triển tự do, công bằng, bình đẳng đối với các tôn giáo, các chỉ thị nghị quyết của Đảng đều được khẳng định: đồng bào các dân tộc, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong suốt quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.trong từng thời kì cách mạng, nhất là thời kì đổi mới, các chính sách về tự do tôn giáo của Đảng  và Nhà Nước ta cơ bản đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo nhân dân, các quyền tự do tôn giáo được tôn trọng, bảo đảm và phát triển.

Đến năm 2010, cả nước có 12 tôn giáo được công nhận tư cách pháp  nhân: phật giáo, công giáo, tin lành, cao đài, hồi giáo, phật giáo hòa hảo. tịnh độ cư sĩ phật hội, tứ ân hiếu nghĩa, đạo ba hải, minh chơn đạo, minh lý đạo, bửu sơn kỳ hương đang hoạt động, với 32 tổ chức giáo hội, hội thánh có trên 20 triêu tín đồ tôn giáo, với trên 85 nghìn chức sắc nhà tu hành và trên 26 nghìn cơ sở thờ tự ở hầu hết các tính thành trong cả nước. hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới như phật giáo, công giáo, tin lành…đều có mặt tại Việt Nam đang chung sống hòa bình, đoàn kết chung sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. ở nhiều nơi,chính quyền địa phương đã giúp đỡ tôn giáo tu sửa, tôn tạo nhà thờ, chùa chiền, tu viện…các cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo với đầy đủ các cấp học như: học viện phật giáo, chủng viện thiên chúa giáo, viện thánh kinh thần của đạo tin lành được chính quyền và các cấp tạo điều kiện hoạt động và phát triển.

Có thể thấy Đảng và Nhà Nước ta luôn quan tâm và tạo điều kiện để các tôn giáo chung sức phát triển đất nước, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, điều đó không có nhĩa là công dân theo tôn giáo không phải chấp hành chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và Nhà Nước. mọi hành động đều phải trong khuôn khổ chấp hành pháp luật. không chỉ việt nam mà pháp luật quốc tế cũng như pháp luật các quốc gia đều quy định: quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải đi đôi với nghĩa vụ tuân thủ sự quản lý của nhà nước và pháp luật. công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 quy định: “ mọi người có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo…” tuy nhiên, quyền này “ có thể bị giới hạn” để “ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền tự do cơ bản của người khác”

Đáng báo động nhất trong thời gian qua là các đồng bào giáo dân ở Nghi Phương-Nghi Lộc-Nghệ An đã bị các thế lực cực đoan cổ suy, tụ tập để gây sức ép cho chính quyền địa phương. Dưới sự kích động của một số phần tử xấu bà con giáo dân đã kéo đén trụ sở ủy ban nhân dân đập phá, ném gạch đá vào lực lượng chức năng làm nhiệm vụ. những việc làm sai trái cảu 1 số bà con giáo dân ở nghi phương đã được các phương tiện thông tin đại chúng phát sóng đưa tin khách quan để mọi người dân hiểu rõ vụ việc. Nhưng bên cạnh đó một số trang mạng vẫn cố tình đưa tin sai sự thật khiến tình hình thêm phức tạp. Hi vọng với bản chất yêu nước, những giáo dân của xã Nghi Phương nói riêng, giáo phận Vinh nói chung cảnh giác không để kẻ xấu xúi giục, kích động tiếp tục yên tâm sản xuất,đoàn kết thôn xóm giữ gìn an ninh trật tự sống tốt đời đẹp đạo.
Read more…

CHẾ ĐỘ XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY QUA CÁC KHÍA CẠNH

tháng 10 07, 2013 |

co(4)


          Việt Dũng

Sự ra đời của học thuyết Mác – Lênin, CNXH đã từ những lý thuyết không tưởng trở thành một hệ thống lý luận khoa học. Quá trình thâm nhập lý luận khoa học đó vào đời sống thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã dẫn đến sự ra đời và phát triển của CNXH hiện thực: từ một nước đến nhiều nước và dần trở thành hệ thống các nước XHCN trên toàn thế giới với nhiều thành tựu vĩ đại, in đậm dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử phát triển của xã hội loài người.

Mặc dù đến cuối thế kỷ XX, mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ do nhiều nguyên nhân khác nhau, song cho đến hôm nay, Việt Nam vẫn là một trong những nước đang tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng thành công CNXH. Hiện nay, các thế lực thù địch đang không ngừng xuyên tạc, “bôi đen” CNXH ở Việt Nam. Theo tôi, đây là quan điểm thiểu số, cực kỳ phản động, vô ơn với công lao to lớn của lớp người đi trước để chúng ta có cuộc sống tốt đẹp như ngày hôm nay. Quan điểm đó là vô cùng phiến diện, chưa nhận thức được những ưu việt vốn có của CNXH, những ưu việt đó được thể hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất, trên lĩnh vực kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang trong giai đoạn khủng hoảng; kinh tế của một loạt các nước lớn đang rơi vào tình trạng hỗn loạn; thất nghiệp, lạm phát đang diễn ra với tỷ lệ chóng mặt. Nhưng ở Việt Nam thì sao? Với một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, dựa trên nền tảng lý luận kinh tế chính trị Mác – Lênin chúng ta đã giải quyết cơ bản ổn định, không có hiện tượng phá vỡ hệ thống kinh tế như một số nước. Lạm phát của Việt Nam luôn được giữ như cũ và có phần giảm đi, đó đã là một thành công. Qua các phương tiện thông tin đại chúng, tôi còn được thấy rằng, một số nước tư bản trên thế giới, các nhà kinh tế hàng đầu đã phải xem lại những lý luận về kinh tế chính trị Mác – Lênin để học tập và hoạch định lại chính sách kinh tế.

Thứ hai, về đời sống chính trị. Một vài người suốt ngày cứ hô hào rằng phải đa nguyên về chính trị, đa Đảng đối lập. Nhưng từ lịch sử cũng như thực tiễn ở Việt Nam cho thấy dù ở giai đoạn nào, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta vẫn luôn có được một đời sống xã hội ổn định và phát triển. Đây cũng chính là môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế và thực hiện các vấn đề an sinh xã hội. Nhìn rộng ra thế giới, tại Thái Lan, những bất ổn chính trị xảy ra liên miên, đời sống con người khó mà ổn định được; hay tại Mỹ, Anh, Đức… hệ thống chính trị ổn định ư? Sự đấu đá, chia rẽ, ganh đua của các phe phái là nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân? Không. Điều đó chỉ đáp ứng lợi ích của các công ty tư bản lũng đoạn cả chính trị, lợi ích cảu những người lãnh đạo của hệ thống chính trị đó. Còn nhân dân thì sao? Họ đang phải gánh chịu sự “thắt lưng buộc bụng”, chịu cảnh thất nghiệp, nợ nần và những bất ổn trong đời sống… Thế là ưu việt hơn CNXH ở Việt Nam?

Thứ ba, đời sống văn hóa – xã hội ở Việt Nam ổn định và phát triển, giữ vững được những nền tảng xã hội tốt đẹp. Việt Nam là đất nước nghìn năm văn hiến, lịch sử Việt Nam gắn liền với những cuộc đấ tranh để bảo vệ và xây dựng đất nước. Thế nhưng, một số người được coi là có học vấn cao lại quên đi hoặc phủ nhận hết lịch sử, chối bỏ hết công lao của lớp người đi trước. Đối với tôi, đó thực sự là những kẻ vô ơn! Họ luôn đưa ra những luận điệu cho rằng Việt Nam là đất nước đàn áp tôn giáo, bất bình đẳng dân tộc, vi phạm nhân quyền, dân chủ. Nhưng thực tế thì sao? Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân và đảm bảo cho quyền đó được thực hiện nghiêm túc; những chúng ta cũng kiên quyết chống lại những luận điệu xuyên tạc, kích động, gây hận thù, chia rẽ trong toàn dân tộc. Những người đang không ngừng hô hào, nói xấu xã hội Việt Nam nên xem lại bản thân mình. Ở đất nước nào cũng có tội phạm và để đảm bảo cho sự ổn định của xã hội, chúng ta phải trấn áp, phải ngăn chặn tội phạm. Nhưng các thế lực thù địch lại lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, cho rằng Việt Nam vi phạm nhân quyền.. Thật nực cười! Thử hỏi sự nhúng tay vào đời sống xã hội, chính trị các nước khác, sự chia rẽ tình đoàn kết dân tộc của các nước khác được gọi là gì?

Việt Nam hiện tại còn vô vàn khó khăn trên nhiều mặt do các yếu tố chủ quan và khách quan đem lại. Cần lắm những khối óc, những bàn tay để góp sức xây dựng đất nước. Muốc xây dựng và phát triển đất nước không phải là ngồi để xuyên tạc đất nước, nói xấu đất nước dân tộc và chế độ. Hãy sống và cùng chung sống hòa hợp, bỏ qua những định kiến để đạt đến sự thống nhất, đoàn kết dân tộc.

 
Read more…

HỌ CHƯA BAO GIỜ TỪ BỎ VIỆC LỢI DỤNG TÔN GIÁO

tháng 10 05, 2013 |
 

1 Kinh Kha

Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam không chỉ là quốc gia có truyền thống quốc gia co truyền thống lâu đời mà còn là một dân tộc đa tôn giáo, tín ngưỡng. Trong cộng đồng 54 dân tộc có những sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng tôn giáo riêng gắn liên với đời sống kinh tế văn hóa, xã hội và tâm linh của mình. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán là tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên các thế lực thù địch tuyên truyền xuyên tạc, tung tin sai sự thật rằng :”Việt Nam có hành động vi phạm tự do tôn giáo nghiêm trọng”, “ở Việt Nam không có tự do tín ngưỡng tôn giáo”. Chúng trắng trợn cáo buộc, lên án “các địa phương vẫn tieps tục đàn áp nhiều người tin lành thiểu số”,” Việt Nam hiện đang có nhiều người bị giam giữ vì tôn giáo”,” bị cưỡng ép bỏ đạo”.

Những ngày vừa qua, xem và suy ngẫm sự việc đã và đang diễn ra tại xã Nghi Phương, huyện Nghi Lộc khiến cho những người công dân chân chính không khỏi cảm thấy đáng tiếc, thất vọng và ngỡ ngàng. Đáng tiếc không chỉ vì hậu quả xáy ra mà còn bởi vì trong một xã hội tiến bộ vẫn còn những công dân thiếu hiểu biết hay cố tình không hiểu nên tự đặt mình “đứng trên pháp luật” hoặc “đứng ngoài vòng pháp luật”. Thất vọng bởi một số “con chiên ngoan đạo” luôn được răn dạy về sự đoàn kết, yêu thương, làm những điều thiện cho đời lại có những hành vi mang tính côn đồ, bắt giữ, hành hung người khác đến trọng thương, đốt phá tan hoang nhà cửa của hàng xóm láng giềng và tấn công lực lượng chức năng một cách đầy bạo lực, khiến xã hội hết sức bất bình, lên án.

Thực tiễn hàng chục năm qua, các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà toàn dân ta đã lựa chọn. Núp dưới chiêu bài “tự do tôn giáo” để cố tình phớt lờ những thành tựu to lớn của Việt Nam về công tác tôn giáo trong gần 30 năm đất nước tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, tìm mọi cách chia rẽ các tổ chức tôn giáo ở nước ta, gây mâu thuẫn giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo với người không có tín ngưỡng tôn giáo, giữa đồng bào tôn giáo với Đảng và Nhà nước, tài trợ cho hoạt động tuyên truyền đạo trái phép, nhằm mục đích gây rối loạn trật tự an ninh, trật tự xã hội, tạo ra các điểm nóng chính trị-xã hội để tạo cớ cho can thiệp phá hoại cách mạng Việt Nam. Chính vì những toan tính chính trị, cho nên khi đưa ra những luận điệu vu cáo Việt Nam “không có tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, “Nhà nước Việt Nam đàn áp giáo dân”…các thế lực thù địch đã cố tình phớt lờ những thực tế sống động về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam trong những thập niên qua.
Read more…

CẢNH GIÁC VỚI HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

tháng 10 05, 2013 |

dan


Lan Anh

Trong âm mưu chống VIệt Nam, các thế lực xấu luôn tìm mọi cách lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, kích động chống đối nhằm làm mất ổn định chính trị, xã hội; tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của ta. Mỗi khi nhà nước ta bổ sung, ban hành văn bản pháp luật mới về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm phù hợp với tình hình xã hội của đất nước thì họ lại đẩy lên “chiến dịch” xuyên tạc, vu cáo nhà nước Việt Nam bóp nghẹt tư do tốn giáo và đòi bãi bỏ những văn bản pháp luật đó. Họ đòi tôn giáo phải độc lập và không chịu sự quản lý của nhà nước. họ tâng bốc, ca ngợi tự do tôn giáo ở các nước tư bản: “Tôn giáo được tư do hoạt động, không chịu sự quản lý của nhà nước”.  Đây không chỉ là luận điều cố tình xuyên tạc mà còn kích động, nhằm làm cho dư luận ngộ nhận rằng, việc nhà nước ban hành các văn bản pháp luật về hoạt động tín ngưỡng tôn giáo là đi ngược lại sự tiến bộ xã hội, tạo phản ứng tiêu cực trong một bộ phận chức sắc, nhà tu hành và quần chúng tín đồ.

Lý luận về quản lý nhà nước và thực tiến tình hình, tôn giáo trên thế giới cho thấy: “quản lý nhà nước với hoạt động tôn giáo là yêu cầu khách quan của mọi quốc gia… tôn giáo và hoạt động tôn giáo, ở bất kỳ quốc gia nào cũng không thể đứng ngoài pháp luật của quốc gia đó. Các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Luật của nước cộng hòa Pháp quy định: “Việc tu tập để thực hiện các nghi lễ tôn giáo phải báo cáo và chịu sự kiểm soát cảu cơ quan chính quyền có chức năng giữ gìn trật tự công cộng”, “giáo sĩ nào công khai bằng lời nói hoặc bằng văn bản kêu gọi khước từ thi hành pháp luật nhà nươc sẽ bị phạt tù từ 3 tháng tới 2 năm”.

Tại Việt Nam,ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến tôn giáo và hoạt động tôn giáo. Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này ngày càng được củng cố và hoàn thiện. Chính sách tự do  tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và nhà nước đã cơ bản đáp ứng được nguyện vọng của đồng bào nhân dân, củng cố niềm tin, tạo động lực để đồng bào tôn giáo góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Hoạt động tôn giáo ở nước ta, bên cạnh xu hướng tuân thủ pháp luật là chủ yếu thì thời gian qua đã xảy ra một số vụ lợi dụng tự do, tín ngưỡng để gây rối trật tự công cộng, đi ngược lại lợi ích của cộng đồng. Trong những ngày qua, dư luận xôn xao về vụ gây rối trật tự tại xã Nghi Phương, Huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Sự việc bắt đầu từ tối 22/5/2013, giáo xứ Mỹ Yên nhất mực cho rằng sự việc xảy ra là do công tác cản trở giáo dân làm lễ nên giáo dân bức xúc, dẫn đến có hành động đánh đập và bắt giữ cán bộ. Những bản chất sự việc không thực sự như vậy vì việc cán bộ công an có mặt làm nhiệm vụ tại địa bàn là hoạt động bình thường nhằm đảm bảo an ninh trật tự. Hơn nữa khi số quá khích bao vây,tấn công thì tổ công tác đang ở nhà anh Đậu Văn Sơn – chỉ huy trưởng xã Nghi Phương và với số ít cán bộ như vậy (8 người) thì làm sao cso thể cản trợ được hàng trăm giáo dân làm lễ. việc một số chức sắc tôn giáo dung túng cho giáo dân quá khích hành xử bất chấp pháp luật, bắt giữ và ép buộc 3 cán bộ ký vào biên bản có nội dung “Công an ngăn cản không cho giáo dân làm lễ” thì mới cho về, phải chăng là che đậy cho hành vi sai trái? Chắc chắn rằng  không có ai và không có lời lẽ nào có thể biện minh cho những hành vi vi phạm pháp luật và đi ngược lại phương hướng hoạt động của giáo hội. hành vi vi phạm pháp luật tại xã Nghi Phương là đặc biệt nghiêm trọng bởi số đối tượng bởi số đối tượng quá khích nhiều lần bao vây trụ sở chính quyền xã, bắt giữ cán bộ, gây phức tạp an ninh trật tự, đi ngược lại chủ trương xây dựng lại khối đại đoàn kết dân tộc của nhà nước và chủ trương, truyền thống sống tốt đời đẹp đạo của giáo hội công giáo. Do đó các đối tượng vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật song điều đáng lên án là khi vụ việc xảy ra một vài chức sắc tôn giáo không chỉ thể hiện thái độ “bỏ mặc chính quyền giải quyết” mà còn có lời nói, việc làm bao che, dung túng kích động cho những hành vi sai phạm, gián tiếp đẩy giáo dân lương theeinj đến mức vi phạm pháp luật. thiết nghĩ các chức sắc tôn giáo cần có trách nhiệm hợp tác với chính quyền các cấp để sớm ổn định an ninh trật tự trên địa bàn xã Nghi Phương.

Các tôn giáo ở VIệt Nam dù nội sinh hay ngoại nhập muốn phát triển đều phải hòa đồng với văn hóa dân tộc và chịu sự quản lý của nhà nước. nội dung quản lý được ghi nhận trong Hiến Pháp và pháp luật. Nhà nước ta xác định rõ quyền hạn hoạt động của các tổ chức, cá nhân tôn giáo trên lĩnh vực quản đạo, hành đạo, truyền đạo; nơi thờ tự của các tôn giáo được nhà nước bảo hộ, việc thành lập tổ chức tôn giáo phải được nhà nước cho phép, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải đúng quy định pháp luật phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Mọi hoạt động lợi dụng tư do, tín ngưỡng, đi ngược lại lợi ích của quốc gia dân tộc, phương hại đến an ninh quốc gia đều phải lên án, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh.
Read more…

VỮNG TIN VÀO ĐẤT NƯỚC

tháng 10 05, 2013 |

5


Việt Dũng

Công cuộc đổi mới đất nước ta đã và đang thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tính ưu việt của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng phải hướng tới việc thực hiện hóa đầy đủ, đồng bộ hệ mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tư tưởng xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đối với dân tộc Việt Nam, chỉ có CNXH mới đảm bảo  cho thật sự. Đây là khát vọng tha thiết của toàn nhân dân Việt Nam sau khi đất nước giành được độc lập và thống nhất Tổ quốc. CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng là quá trình dân chủ hóa, phát huy mọi quyền dân chủ của nhân dân, đồng thời hướng tới những giá trị công bằng cho mọi tầng lớp, mọi người dân, xây dựng xã hội Việt Nam thành một xã hội văn minh, hiện đại.

Tính ưu việt của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng thể hiện ở bản chất ưu việt của các giá trị, thể hiện trong mục tiêu cần đạt tới là thật sự.

Tính ưu việt của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng thể hiện ở bản chất ưu việt về chính trị của chế độ dân chủ XHCN trên cơ sở kế thừa giá trị quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: sự nghiệp cách mạng là của quần chúng; kế thừa những giá trị trong tư tưởng truyền thống của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, tính ưu việt của CNXH trong đặc trưng vừa nêu còn được thể hiện trong nhận thức của Đảng ta về việc từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN gắn liền với việc đảm bảo tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển của đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thể hiện trong thực tế cuộc sống ở mọi cấp, trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra và các hình thức dân chủ trực tiếp. Nhân dân (bao gồm đông đảo các giai cấp, tầng lớp dân cư, các dân tộc, tôn giáo...) làm chủ thông qua các hình thức dân chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp. Đây là đặc trưng thể hiện tính ưu việt trên lĩnh vực kinh tế của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng so với các chế độ xã hội khác. Về lực lượng sản xuất cuả XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng không thể là cái gì khác ngoài lực lượng sản xuất hiện đại với khoa học kĩ thuật và công nghệ tiên tiến, gắn với phát triển kinh tế tri thức. Về quan hệ sản xuất không thể không tính đến yếu tố quan trọng hàng đầu là chế dộ sở hữu.

Tính ưu việt về văn hóa của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng thể hiện khái quát ở tính chất tiên tiến của nền văn hóa, ở việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc (những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam: chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống đoàn kết và nhân ái, ý thức về độc lập, tự do, tự cường dân tộc...). Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đòi hỏi vừa phải tiếp thu những giá trị của tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa phải kế thừah, phát triển bane sắc văn hóa của các tộc người Việt Nam, xây dựng một nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Sự kết hợp hài hòa những giá trị tiên tiến với những giá trị mang đậm bản sắc dân tộc thể hiện tính ưu việt của chế độ XHCN mà nhân dâ ta đang xây dựng trên lĩnh ực văn hóa, làm cho văn hóa  trở tành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển

Về phương diện con người, CNXH đồng nghĩa với chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo: tất cả vì con người, cho con người và phát triển con người toàn diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ roc: “Để có con người XHCN phải xác định và hiện thực hóa hệ giá trị phản ánh nhu cầu chính đáng của con người trong XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng”. Tính ưu việt của CNXH thể hiện trong đặc trưng này là quan điểm nhân văn, vì con người, chăm lo xây dựng con người, phát triển toàn diện con người (đức, trí, thể, mĩ) của Đảng và Nhà nước ta.

Thực tiến 27 năm đổi mới, đất nước ta đã và đang chứng minh tính ưu việt trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, chứng minh tính ưu việt của CNXH trong giải quyết các quan hệ dân tộc ở Việt Nam. Nhờ đó đã và đang phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, tính đồng thuận trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, chống lại âm mưu chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch

Đồng thời, tính ưu việt của CNXH  không những thể hiện trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội mà còn thể hiện trong quan hệ đối ngoại, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Xác định quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới là đặc trưng nhất quán trên lĩnh vực đối ngoại của Đảng ta từ năm 1991 đến nay. Trong điều kiện hội nhập quốc tế, đặc trưng này còn thể hiện tính ưu việt của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế cảu Đảng và Nhà nước ta. Việt Nam luon khẳng định quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân ta và nhân dân các nước trên thế giới. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng , tế. Đảng và Nhà nước ta chủ trương hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tham gia vào các tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực đã chứng minh một cách sinh động tính ưu việt của chế độ CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng, thể hiện trong đặc trưng về quan hệ đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

Những đặc trưng vừa nêu trên thể hiện tính ưu việt của CNXH mà  nhân dâ ta đang xây dựng trong việc xác lập những đường nét cơ bản mang sắc thái riêng của mô hình CNXH Việt Nam mà nhân dân ta đang xây dựng để từng bước hiện thực hóa đặc trưng, mô hình đó trong thực tiễn cuộc sống.
Read more…

Tự do tín ngưỡng tôn giáo không có nghĩa là coi thường pháp luật.

tháng 10 04, 2013 |

DO


Thanh Huyền

Việt Nam là một quốc gia có sự đa dạng về chủng tộc và tôn giáo. Gần đây tôn giáo nổi lên như một vấn đề có tính nhạy cảm về chính trị, nhiều khi nó còn làm bất ổn gây ra những biến động trong xã hội.

Tự do tín ngưỡng tôn giáo là quyền được thực hiện các hành vi tôn giáo, theo đuổi một tín ngưỡng của một cá nhân một cách tự do. Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo được ghi nhận trong điều 70- Hiến pháp Nhà nước CHXHCNVN. Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng không tôn giáo của nhân dân. Pháp lệnh tín ngưỡng và tôn giáo đã được đưa ra một cách hệ thống. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân về tự do tín ngưỡng tôn giáo. Tuy nhiên tự do tín ngưỡng tôn giáo không có nghĩa là đứng trên pháp luật, coi thường pháp luật. Một ví dụ cụ thể như vụ việc xảy ra ở Giáo sứ Mỹ Yên thuộc xã Nghi Phương, Nghi Lộc, Nghệ An thời gian gần đây đã gây xôn xao dư luận. Vụ việc này đã có những hành độngquá khích, thực hiện các hành vi gây rồi trật tự công cộng, có những hàng động quá khích vi phạm pháp luật, giáo dân đã bao vây trụ sở chính quyền, giữ người trái pháp luật, hành hung cán bộ nhà nước, đập phá tài sản…đây là những hành vi vi phạm pháp Bộ Luật Hình sự của Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Đây không phải là tự do tôn giáo tín ngưỡng mà là sự quá khích dẫn đến chống đối chính quyền, chống đối nhà nước. Vụ việc này là một kịch bản đã được chuẩn bị và bố trí từ trước với ý đồ đen tối. Các thế lực thù địch rất khôn khéo lợi dụng kích động, lừa gạt phần lớn giáo dân của giáo xứ để tuyên truyền, hướng lái họ nổi dậy bạo loạn, chống chính quyền gây mất trật tự an ninh, xã hội.

Ngay sau khi sự việc xảy ra trên các trang mạng thù địch nhà nước Việt Nam đã “nhảy vào” cố tình bịa đặt trắng trợn cho rằng chính quyền đàn áp nhân dân với ý đồ vô cùng thâm hiểm đó là tổ chức gây rối trật tự công cộng, từ đó xuyên tạc vu cáo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tự do tín ngưỡng tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, làm giảm uy tín của Đảng, làm mất lòng tin từ phần lớn đồng bào theo đối với Đảng, Nhà nước. Pháp luật Việt Nam đã quy định rõ các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo phải đi đôi với nghĩa vụ tuân thủ pháp luật. Vì vậy những hành vi lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tôn giáo để vi phạm pháp luật sẽ bị nghiêm trị.
Read more…

NHỮNG ƯU VIỆT CỦA CHẾ ĐỘ XHCN VIỆT NAM

tháng 10 04, 2013 |
5

Thanh Huyền

Kế thừa, vận dụng và phát triển di sản kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội (CNXH) vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nếu nói một cách vắn tắt, mộc mạc thì CNXH trước hết nhằm làm cho nhân dân thoát khỏi nạn bàn cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, được ấm no và có cuộc sống hạnh phúc. Vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của đất nước ta, Đảng ta khẳng định: độc lập dân tộc và CNXH không tách rời nhau. Đó là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng của Đảng. Việc Đảng ta luôn kiên định con đường đi lên CNXH là phù hợp với xu hướng của thời đại và điều kiện cụ thể của đất nước ta.

Với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mô hình CNXH ở nước ta hiện nay có nhiều điểm ưu việt, cụ thể là:

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xã hội nước ta thể hiện rõ tính công bằng, dân chủ, văn minh, do nhân dân làm chủ. Dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mọi cấp, trên tất cả lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra và các hình thức dân chủ trực tiếp. Tư tưởng xuyen suốt của cách mạng Việt Nam là dộc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đối với dân tộc Việt Nam, chỉ có CNXH mới đảm bảo cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thật sự. Đây là khát vọng tha thiết của toàn thể nhân dân Việt Nam sau khi đất nước iành được độc lập và thống nhất Tổ quốc.

Hơn nữa, nền kinh tế thị trường Việt Nam đang từng bước tạo dựng là nền kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, là nấc thang cao trong  lịch sử phát triển kinh tế thị trường. Cụ thể trong những năm vừa qua, tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam luôn tăng và giữ tính ổn định đối với kinh tế vĩ mô.

Việt Nam có một nền văn hóa tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc đòi hỏi vừa phải tiếp thu những giá trị của tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa phải kế thừa, phát triển bản sắc văn hóa của các tộc người Việt Nam, xây dựng một nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Sự kết hợp hài hòa những giá trị tiên tiến với những giá trị mang đậm bản sắc dân tộc thể hiện tính ưu việt của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng  trên lĩnh vực văn hóa, làm cho văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển.

Tính ưu việt ở đây thể hiện một cách rõ nét so với các nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, dưới sự cầm quyền của giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản thường dựa trên lập trường của chủ nghĩa cá nhân, bảo vệ quyền lợi và lợi ích cho giai cấp tư sản trong sự bóc lọt giai cấp vô sản. Cụ thể, mặc dù hiện nay chủ nghĩa tư bản có sự “điều chỉnh” để thích ứng nhưng vẫn tiếp tục đưa lại hệ quả xấu là khoét sâu thêm khoảng cách giữa giàu và nghèo, làm cho các nước nghèo, người nghèo ngày càng nghèo hơn, các nước giàu, người giàu ngày càng giàu hơn. Chính vì thế, chủ nĩa tư bản luôn phải đối mặt với tình trạng thất nghệp tăng cao và hơn nữa dó là chế độ đẳng cấp, nạn bóc lột lao động, lối sóng thực dụng tha hóa con người.

Tóm lại, mô hình CNXH ở Việt Nam hiện nay đã bộc lộ rõ nét những điểm ưu việt mà chủ nghĩa tư bản khôngt thể đem lại. Quy luật tất yếu phát triểln của các hình thái kinh tế xã hội từ sơ khai cho đến nay là không thể cưỡng lại. Cho nên, không chỉ Việt Nam hay một số nước đi lên CNXH khác sẽ tiếp tục phát triển theo con đường đã chọn, mà các nước đang theo chủ nghĩa tư bản rồi cũng tiến lên CNXH theo đúng quy luật đó.
Read more…

NHÀ NƯỚC VIỆT NAM LUÔN TÔN TRỌNG TỰ DO TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO

tháng 10 04, 2013 |
 

Vin-pơn

Nhà Nước Việt Nam luôn coi trọng tín ngưỡng tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của một bộ phận quàn chúng nhân dân và sẽ cùng tồn tại với dân tộc trong suốt quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Điều này thể hiện trên quan điểm tư tưởng của Đảng và được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật của nhà nước cụ thể:

1, Ngay sau khi khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa ngày mồng 3/9/1945 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã chủ tọa phiên họp đầu tiên của hội đồng chính phủ. Phiên họp này khẳng định “ thực hiện tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết” một trong sáu vấn đề cấp bách cần giải quyết của nhà nước ta.

Ngày 9/11/1946 Hiến pháp đầu tiên của nước ta họp thông qua nhân dân có quyền “tự do tín ngưỡng”

Thực hiện các chủ trương đó, trong quá trình quản lí xã hội và điều hành đất nước Đảng nhà nước ta luôn quan tâm đến tôn giáo và có chính sách với tôn giáo đúng đắn phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Chính vì thế quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo được quy định rõ ràng tại văn bản có hiệu lực pháp luật cao nhất của nhà nước ta là Hiến pháp.  Cụ thể điều 70 Hiến pháp quy định : “ Công nhân có quyền tín ngưỡng theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Cấc tôn giáo điều bình đẳng trước pháp luật… không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng để làm trái pháp luật và chính sách của nhà nước”.

Tại điều 1 sắc lệnh 234/SL ngày 14/06/1955 cũng khẳng định: Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cũng của nhân dân không ai được xâm phạm quyền tự do ấy … . Tại Nghị quyết số 25/NQTW- ngày 12/03/2003 cũng khẳng định “ tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân đồng bào của một khối đoàn kết dân tộc”. Trên thực tế ta thấy nhà nước ta luôn thực hiện những chính sách đảm bảo cho tôn giáo được phát triển và bảo vệ thực hiện các chính sách đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa các tôn giáo khác nhau. Tuy nhiên một số đối tượng xấu đã lợi dụng tôn giáo làm bình phong cho hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia của chúng. Không ngừng đả kích ta khi thì đàn áp tôn giáo gây mất đoàn kết dân tộc đoàn kết tôn giáo, gây hiểu nhầm mâu thuẫn trong quần chúng nhân dân. Vì vậy chúng ta cần có chính sách biện pháp để ngăn chặn cũng như khẳng định nhà nước Việt Nam không kì thị đàn áp tôn giáo.
Read more…

Trung Quốc và vấn đề tranh chấp lãnh thổ

tháng 10 03, 2013 |

 

“Tề gia – Trị quốc – Bình thiên hạ”, đó vẫn là tư tưởng của Trung Hoa đại lục từ hằng ngàn năm nay. Các triều đại Trung Quốc luôn cố gắng làm điều đó bất chấp những hậu quả có thể xảy ra. Theo năm tháng, cái triết lý đó của Trung Quốc đã đưa họ tới rất nhiều cuộc xích mích, tranh chấp lãnh thổ; có những đỉnh điểm xảy ra chiến tranh; điều mà đã mang lại cho Trung Quốc nhiều người đối đầu hơn là bạn. Vậy chúng ta cùng nhìn lại lịch sử tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc với các nước xung quanh:

- Tranh chấp lãnh thổ Trung-Nga:

Trong lịch sử Nga-Trung Quốc đã xảy ra cuộc xung đột biên giới vào năm 1969. Đây là một loạt các vụ đụng độ vũ trang giữa Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, xảy ra vào lúc cao điểm của sự chia rẽ giữa Trung Quốc và Liên Xô trong thập niên 1960. Một hòn đảo trên sông Ussuri mà người Trung Hoa gọi là Trân Bảo và Liên Xô gọi là Damansky (Остров Даманский) đã đưa Liên Xô và Trung Quốc vào chiến tranh năm 1969. Mãi sau này thỏa thuận giữa hai nươc mới được thỏa thuận nhưng điều đó đã khiên cho biên giới hai nước luôn ở trạng thái nghiêm ngặt.

- Chiến tranh Trung-Ấn:

Cuộc xung đột biên giới Trung-Ấn là một cuộc chiến tranh giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Ấn Độ. Nguyên nhân chính của cuộc chiến là việc tranh chấp khu vực biên giới Aksai Chin và bang Arunachal Pradesh, mà Trung Quốc gọi là Nam Tây Tạng. Ngoài ra, còn những nguyên nhân khác như hàng loạt các cuộc xung đột biên giới diễn ra sau cuộc nổi dậy Tây Tạng năm 1959, và Ấn Độ trao qui chế tị nạn chính trị cho Đạt Lai Lạt Ma. Ấn Độ cũng thực hiện chính sách thiết lập một số tiền đồn dọc biên giới, gồm cả một số vị trí nằm ở phía bắc tuyến McMahon, là phần phía đông của đường kiểm soát trên thực tế do Trung Quốc tuyên bố năm 1959. Sau chiến tranh Trung-Ấn bản đồ vùng tranh chấp Kasmir đã bị sửa đổi, Trung Quốc thông báo Aksai Chin đã thuộc Trung Quốc quản lý phía Trung Quốc đã đạt được yêu cầu vì vậy PLA đã không tiến xa hơn, ngày 19/11 Chu Ân Lai tuyên bố đơn phương ngừng bắn, lệnh ngừng bắn bắt đầu vào nửa đêm 20 rạng sáng ngày 21/11/1962. Người phát ngôn của Chu Ân Lai nói rằng bắt đầu từ 21/11 binh lính Trung Quốc sẽ ngừng bắn trên dọc tuyến biên giới Trung Quốc-Ấn Độ, quân đội Trung Quốc sẽ lùi về phía sau 20 km tính từ đường kiểm soát thực tế đã tồn tại từ ngày 7/11/1959. Ngày 19/11 phía Ấn Độ yêu cầu Hoa Kỳ hỗ trợ bằng không quân, các tàu sân bay Mỹ được lệnh áp sát bờ biển Ấn Độ nhưng do 24h sau đó Trung Quốc đã tuyên bố đơn phương ngừng bắn để tránh sự can thiệp của Mỹ,các tàu sân bay được lệnh quay trở lại,một cuộc đối đầu Trung-Mỹ đã được tránh. Có thê nói tranh chấp biên giới Trung-Ấn trên đất liền hiện nay vẫn còn rất căng thẳng.

- Tranh chấp biên giới Việt-Trung:

Vấn đề biên giới lãnh thổ Trung Quốc-Việt Nam từ lâu trong lịch sử đã phức tạp bởi các triều đại Trung Hoa luôn tìm cách xâm lấn lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay, cơ bản vấn đề này đã được giải quyết bởi Việt Nam và Trung Quốc đã phân định xong công việc cắm mốc biên giới trên đất liền. 

* Tranh chấp trên biển:

- Tranh chấp Trung-Nhật

Tranh chấp giữa Trung Quốc và Nhật Bản xảy ra tại vùng biển Hoa Đông về phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của mỗi quốc gia. Tranh chấp giữa Trung Quốc với Nhật Bản liên qua tới nguồn khí thiên nhiên. Trung Quốc gần đây đã phát hiện ra rằng tại đây tồn tại một mỏ khí thiên nhiên lớn dưới đáy biển Đông Hải, một phần của mỏ nằm trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc trong khi phần còn lại nằm trong vùng đặc quyền kinh tế đang tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc.

Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố vùng biển đang tranh chấp như là vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình do nó là phần mở rộng tự nhiên của thềm lục địa thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong khi Nhật Bản tuyên bố vùng biển đang tranh chấp như là vùng đặc quyền kinh tế của mình do nó nằm trong phạm vi 200 hải lý (370 km) từ bờ biển Nhật Bản. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã cho lắp đặt thiết bị tại mỏ hơi đốt Xuân Hiểu, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của mình và chỉ cách ranh giới của vùng đặc quyền kinh tế đang bị Nhật Bản tranh chấp trên 4 km, để khai thác khí thiên nhiên. Nhật Bản cho rằng mặc dù các thiết bị của mỏ hơi đốt Xuân Hiểu nằm ở mé Trung Quốc của đường trung tuyến mà chính quyền Tokyo coi như là ranh giới biển của hai phía, nhưng chúng có thể khoan vào các mỏ kéo dài tới vùng tranh chấp. Vì thế Nhật Bản đòi hỏi phải được ăn chia trong nguồn khí thiên nhiên này.

- Tranh chấp giữa Trung Quốc-Hàn Quốc:

Tranh chấp giữa Trung Quốc và Hàn Quốc liên quan tới đá ngầm Socotra, một rạn đá ngầm mà trên đó Hàn Quốc đã cho xây dựng một trạm nghiên cứu khoa học. Trong khi không một quốc gia nào tuyên bố đá ngầm này là lãnh thổ của mình thì Trung Quốc lại cho rằng các hoạt động của Hàn Quốc tại đây là vi phạm quyền chủ quyền của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.

- Tranh chấp trên Biển Đông:

Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông gồm các tranh chấp về đảo và vùng biển trên biển Đông bao gồm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hoàng Sa là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Việt Nam, Đài Loan. Quần đảo Trường Sa là nơi tranh chấp chủ quyền của 6 quốc gia và lãnh thổ giữa Trung Quốc và Đài LoanViệt NamPhilippinesMalaysiaBrunei. Các quốc gia đều tuyên bố chủ quyền toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa. Bãi Macclesfield là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines. Quần đảo Đông Sa do Đài Loan quản lý là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc và Đài Loan.

Thực tế hiện nay vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước xung quanh ngày càng tăng; đặc biệt là tranh chấp với Ấn Độ, Nhật Bản và trên biển Đông. Cùng với sự lớn mạnh của mình trên thế giới, Trung Quốc đang muốn sử dụng sức mạnh trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ; điều đó giúp Trung Quốc có được ưu thế trước đối thủ. Tuy nhiên, đó chỉ là ưu thế tạm thời; hậu quả lâu dài mà Trung Quốc sẽ phải gánh chịu là sự cảnh giác của các nước (thậm chí cả quốc tế) vì sự bành trướng một cách vô lý, ngang nhiên của mình; đó là sự liên kết của các nước tranh chấp với Trung Quốc và sự tăng cường sức mạng quốc phòng trong tranh chấp với nước này.

Có thể hình dung hiện nay, Trung Quốc đang tranh chấp với các nước xung quanh biên giới của họ.Mặc dù là một cường quốc nhưng chúng ta có thể thấy đây không phải là chính sách khôn ngoan của đất nước tự xưng là trung tâm của thế giới.   

                                                                                              Đôi mắt

Read more…

Lê Quốc Quân - Mối quan hệ giữa tội trốn thuế và “dân chủ, nhân quyền”

tháng 10 03, 2013 |

Image

Hôm nay 2/10, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án trốn thuế được quy định tại Điều 161- Bộ luật Hình sự xảy ra tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam, trụ sở tại nhà A9-D5, phố Dịch Vọng Hậu, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Theo chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được, Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam, thành lập tháng 4/2001 với hai thành viên do Lê Quốc Quân làm giám đốc và đại diện theo pháp luật từ khi thành lập cho đến khi bị bắt. Công ty này đã thay đổi đăng ký kinh doanh lần thứ 13 vào ngày 5/6/2012; với ngành nghề kinh doanh là cập nhật, tìm kiếm lưu trữ, xử lý dữ liệu, dịch vụ nghiên cứu và cung cấp thông tin thị trường. Từ khi thành lập công ty đến khi bị bắt, Lê Quốc Quân đã ký nhiều hợp đồng với các cá nhân, doanh nghiệp ở trong và ngoài nước (chủ yếu qua skype, email), mở sáu tài khoản tại hai ngân hàng BIDV và Vietcombank, nhận tiền từ nhiều nguồn khác nhau. Tổng số tiền Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam thu được qua hoạt động kinh doanh là 13,318 tỷ đồng, trong đó có 588.000 USD (Lê Quốc Quân đã bán cho ngân hàng để rút tiền VNĐ). Quá trình hoạt động, Lê Quốc Quân nhận thấy Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam phải xuất hóa đơn cho các đối tác khi ký hợp đồng nhưng không phải nộp thuế giá trị gia tăng (thuế xuất bằng 0), do vậy doanh số kinh doanh lớn. Để làm tăng chi phí, giảm thu nhập cho công ty nhằm mục đích trốn thuế thu nhập doanh nghiệp, Lê Quốc Quân đã chỉ đạo kế toán, thủ quỹ thực hiện các hành vi sai phạm như nhờ một số người thân quen có bằng cấp kế toán, tài chính... để lấy thông tin của họ rồi đưa vào các hợp đồng thuê chuyên gia tư vấn với Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam, lập khống hợp đồng tư vấn môi giới thương mại, mua hóa đơn giá trị gia tăng khống, sau đó sử dụng để kê khai tại Chi cục thuế quận Cầu Giấy, gồm: Tờ khai thuế giá trị gia tăng; bảng kê hóa đơn; chứng từ hàng hóa dịch vụ mua vào, bán ra; tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính; tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân; báo cáo tài chính... do Lê Quốc Quân ký và đóng dấu nộp tại Chi cục thuế quận Cầu Giấy. Bằng thủ đoạn trên, chỉ tính riêng trong hai năm 2010 và 2011, Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam đã lập và ký hợp đồng với chín chuyên gia tư vấn nhằm tăng chi phí và giảm thu nhập cho Công ty với số tiền là 1,75 tỷ đồng. Số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp Công ty này đã trốn là hơn 649 triệu đồng. Cũng trong năm 2010 và 2011, thông qua Phạm Thị Phương và Nguyễn Thị Thơm, Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam đã mua nhiều hóa đơn giá trị gia tăng khống của nhiều Công ty với nhiều mặt hàng, qua đó khai tăng chi phí doanh nghiệp nhằm trốn thuế thu nhập doanh nghiệp. Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Phạm Thị Phương và Nguyễn Thị Thơm cùng một số đối tượng liên quan đã nhận thức được sai phạm và khai rõ toàn bộ hành vi sai phạm của Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam trong việc thuê chuyên gia tư vấn khống, dùng hóa đơn giá trị gia tăng khống để khai tăng chí phí của doanh nghiệp nhằm mục đích trốn thuế thu nhập doanh nghiệp. Những người được cho là chuyên gia tư vấn cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam cũng trình bày rõ, họ không tham gia làm gì cho Công ty này, không nhận số tiền hàng trăm triệu đồng như phiếu chi mà chỉ ký hợp đồng, phiếu thu, phiếu chi hợp thức cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam. Mỗi người phải ký 12 hợp đồng, 12 phiếu thu, 12 phiếu chi/lần. Sau khi ký hợp thức, mỗi người được Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam trả từ 01-03 triệu đồng.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là từ khi bị bắt tới trước ngày xét xử hôm nay, đã có một số tổ chức, trang web nước ngoài đăng tải các thông tin với nội dung sai lệch; đang từ vụ việc phạm tội trong vụ án kinh tế nhưng các trang mạng nước ngoài lại nói rằng Lê Quốc Quân lả “một nhà bất đồng chính kiến”, là người “đấu tranh cho dân chủ Việt Nam”; xuyên tạc rằng Việt Nam “đàn áp người bất đồng chính kiến”. Nếu quan tâm thì sẽ hiểu bản chất của vấn đề; rằng với âm mưu chống phá Việt Nam, người ta có thể thêu dệt nên bất kỳ câu chuyện nào đó nói xấu Việt Nam mặc cho bản chất sự việc hoàn toàn khác. Thậm chí, trong phiên tòa sáng nay, đã có một số đông người tụ tập trước cổng Tòa án nhân dân Hà Nội (nơi xét xử vụ án) gấy rối trật tự nhằm ủng hộ Lê Quốc Quân. Điều này cũng cho thấy sự ngày càng trắng trợn xuyên tạc vu cáo chống phá Việt Nam; bất kỳ ai bị xử lý trước pháp luật, nếu thấy có thể đều được quy chụp, dẫn dắt và đưa về vấn đề nhân quyền, dân chủ. 

                                                                                              Đôi mắt

Read more…

Tự hào lịch sử hải quân Việt Nam

tháng 10 03, 2013 |

 

Đánh giặc Quỳnh Châu – chiến tích thời Hùng Vương

Các nghiên cứu lịch sử khẳng định người Việt từ thời Vua Hùng đã rất giỏi thủy chiến. Tuy vậy, dấu vết của những trận thủy chiến đầu tiên của dân tộc hầu như không còn được lưu lại trong sử sách. Chỉ còn một số truyền thuyết của cư dân vùng ven biển Bắc Bộ đề cập đến những cuộc chiến đó, tiêu biểu là một truyền thuyết được ghi nhận ở Hải Phòng. Theo đó, vào thời Hùng Vương thứ 6, nhân dân sống ở ven bờ biển của nước Văn Lang thường rơi vào cảnh khốn đốn do quân giặc từ đảo Quỳnh Châu đưa thuyền vào cướp phá hàng năm. Trước lời kêu cứu của dân, Vua Hùng đã đem quân về, đóng ở một cái hang mà ngày nay là hang Vua ở Hải Phòng. Dưới sự lãnh đạo của Hùng Vương, quân và dân Văn Lang đã đánh tan nhiều cuộc tấn công của giặc Quỳnh Châu và cuối cùng, đóng thuyền chiến vượt biển sang tận đảo Quỳnh Châu, phá tan sào huyệt địch rồi rút về. Kể từ đó, giặc biển Quỳnh Châu không còn dám vào quấy phá nước ta nữa. Truyền thuyết này đã chứng tỏ rằng, hoạt động thủy chiến của người Việt thời Vua Hùng không chỉ giới hạn trong các sông, hồ thuộc đất liền, mà còn diễn ra trên cả các vùng biển xa. 


Trận Hồ Điển Triệt và cơ hội bị bỏ lỡ của Lý Nam Đế

Hồ Điển Triệt (nay thuộc xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) là nơi từng diễn ra trận đánh lớn cuối cùng của Lý Nam Đế vào thế kỷ VI. Theo sử sách, sau khi tiến hành khởi nghĩa lật đổ ách thống trị của nhà Lương, vào tháng 2 năm 544, Lý Bí tự xưng là Lý Nam Đế, lập nước lấy tên là Vạn Xuân, đóng đô ở vùng cửa sông Tô Lịch (Hà Nội ngày nay). Đầu năm 545, nhà Lương tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Vạn Xuân, nhằm khôi phục sự thống trị. Với lực lượng áp đảo, vào tháng 7/545, quân xâm lược đã tiến sâu vào lưu vực sông Hồng, đẩy lực lượng Lý Nam Đế vào tình thế khó khăn, phải bỏ thành Tô Lịch và rút về miền đồi núi Động Lão (Vĩnh Phúc) để bảo toàn lực lượng. Sau một thời gian củng cố lực lượng, tháng 10/546, Lý Nam Đế kéo quân ra hạ thủy trại ở hồ Điển Triệt, sẵn sàng nghênh địch. Quân Lương ngược dòng sông Lô lên định phá doanh trại của Lý Nam Đế ở hồ Điển Triệt, nhưng thất bại liên tiếp do địa thế vùng hồ này quả hiểm yếu, đành co cụm lại ở vòng ngoài của hồ. Tuy vậy, quân Lý Nam Đế vẫn cố thủ, không xuất kích để tiêu diệt kẻ địch đang ở thế bị động. Nhân một đêm mưa lũ khiến mực nước hồ Điển Triệt dâng cao, quân Lương nhanh chóng tung chiến thuyền đánh úp căn cứ của Lý Nam Đế. Nghĩa quân bị đánh bất ngờ, không kịp phòng bị nên chống đỡ không nổi, phải mở đường máu rút lúi khỏi hồ Điển Triệt trong sự truy kích của kẻ thù. Sau lần thất bại này, Lý Nam Đế phải vào nương náu trong động Khuất Lão (Tam Nông, Phú Thọ), giao lại toàn bộ binh quyền cho Triệu Quang Phục.

 

Trận Bạch Đằng 938 và chiến thuật đóng cọc gỗ kinh điển

Trận Bạch Đằng năm 938 là một trận đánh giữa quân dân Việt Nam - thời đó gọi là Tĩnh Hải quân và chưa có quốc hiệu chính thức - do Ngô Quyền lãnh đạo với quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Nguyên nhân dẫn đến trận đánh bắt đầu từ năm năm 937, hào trưởng đất Phong Châu là Kiều Công Tiễn sát hại Dương Đình Nghệ (bố vợ của Ngô Quyền) để chiếm quyền, nhưng lại không có chỗ dựa chính trị vững chắc nên đã cầu cứu nhà Nam Hán để bảo vệ quyền lực của mình. Ngô Quyền nhanh chóng tập hợp lực lượng, kéo quân ra Bắc, giết chết Kiều Công Tiễn, rồi chuẩn bị quyết chiến với quân Nam Hán do Lưu Hoằng Tháo chỉ huy. Theo sử sách, khi nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, ông bảo với các tướng rằng: “Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát”. Lợi dụng chế độ thủy văn khắc nghiệt của sông Bạch Đằng, Ngô Quyền sai đóng cọc dưới lòng sông, đầu bịt sắt nhọn sao cho khi nước triều lên thì bãi cọc bị che lấp. Khi cuộc chiến diễn ra, ông đã nhử quân Nam Hán vào khu vực này khi thủy triều lên và đợi nước triều rút xuống cho thuyền quân Nam Hán mắc cạn mới giao chiến. Kết quả, quân Nam Hán thảm bại, Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ, nhà Nam Hán phải từ bỏ giấc mộng xâm lược. Sau chiến thắng, Ngô Quyền lên ngôi vua, đánh dấu cho việc chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc của Việt Nam.

 

Trận Bạch Đằng 981 - kế mai phục của Lê Đại Hành

Trận Bạch Đằng 981 là một trận đánh có ý nghĩa quyết định trong cuộc chiến tranh giữa nước Tống và Đại Cồ Việt, diễn ra từ tháng 1-4/981. Năm 979, sau khi cha con vua Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại, tranh chấp quyền lực trong cung đình đã xảy ra giữa phe của Lê Hoàn (941-1005)  và một số đại thần thân cận của Đinh Tiên Hoàng. Lê Hoàn đã giết chết các đối thủ và củng cố sự kiểm soát triều đình. Thấy triều đình nước Việt rối ren, nhà Tống ráo riết chuẩn bị đưa quân đánh chiếm Đại Cồ Việt. Trước tình hình đó, Lê Hoàn lên ngôi vua (sử thường gọi là Lê Đại Hành), lấy niên hiệu là Thiên Phúc. Đầu năm 981, vua nhà Tống cho quân sang đánh Đại Cồ Việt. Chiến sự diễn ra ác liệt cả trên bộ và trên sông trong nhiều tháng trời giữa quân đội hai bên. Đến giữa tháng 4/981, thủy quân Tống do Hầu Nhân Bảo thống lĩnh thất bại trong việc chọc thủng phòng tuyến đối phương đã phải quay về sông Bạch Đằng và rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Trước tình hình này Lê Đại Hành đã chuẩn bị cho một trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng. Ông chọn một khúc sông hiểm yếu rồi bố trí quân mai phục chờ sẵn. Ngày 28/4/981, Lê Đại Hành đã cho một cánh quân ra khiêu chiến với quân Hầu Nhân Bảo rồi vờ “thua chạy”. Quân Tống đuổi theo, lọt vào trận địa mai phục và bị hủy diệt gần như toàn bộ. Sau thất bại của đạo quân thủy, quân bộ của nước Tống hoảng sợ bỏ chạy về nước, bị truy kích và tiêu diệt quá nửa. Sau cuộc chiến tranh này, nhà Tống đã phải thừa nhận Lê Hoàn là người cai trị Đại Cồ Việt. 


Nhật Lệ - trận thủy chiến lịch sử giữa Đại Việt và Chiêm Thành

Quan hệ giữa hai quốc gia Đại Việt và Chiêm Thành là một mối quan hệ rất phức tạp trong lịch sử khu vực Đông Nam Á thời Trung đại. Do điều kiện tự nhiên lãnh thổ quốc gia hẹp lại trải dài dọc theo bờ biển, giao thông Nam Bắc bằng đường bộ không thuận tiện, chủ yếu phải thực hiện bằng đường biển nên người Chiêm rất thạo nghề sông biển và lực lượng hải quân mạnh. Với lực lượng đó, quân Chiêm Thành từng nhiều lần đánh phá Đại Việt. Tuy vậy, do tiềm lực quân sự yếu hơn nên người Chiêm Thành cũng nhiều lần phải hứng chịu những thất bại thảm khốc trước đế chế Đại Việt hùng mạnh. Trong các thất bại này, có thể kể đến trận thủy chiến Nhật Lệ. Theo đó, vào năm 1069, vua Lý Thái Tông và danh tướng Lý Thường Kiệt đã đem 5 vạn quân đi chinh phạt Chiêm Thành nhằm ngăn chặn hành động tiếp tay cho nhà Tống quấy phá biên giới phía Nam của Đại Việt. Lực lượng Đại Việt đã hành quân bằng đường biển và khi đến cửa Nhật Lệ (Quảng Bình) thì gặp thuỷ quân Chiêm chặn đánh. Tại đây, lực lượng của Chiêm Thành đã bị đánh tan trước sức mạnh của đạo thủy quân Đại Việt. Sau trận này, Lý Thánh Tông đã cho quân tiến xuống cửa biển Thị Nại (Quy Nhơn) mà không gặp sức kháng cự nào của thuỷ quân Chiêm. Điều này chứng tỏ rằng, thuỷ quân Chiêm đã tan vỡ từ trận Nhật Lệ, hoặc vì quá sợ hãi mà không dám ra giao chiến.

 

Trận Bạch Đằng năm 1288 – sự hồi sinh của lịch sử

Vào năm 1287, nhà Nguyên mở đầu cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ ba nhưng chỉ chiếm được kinh thành Thăng Long không một bóng người, lại bị mất đoàn thuyền chở lương trong trận Vân Đồn. Trước tình thế bất lợi, quân Nguyên tổ chức rút về nước theo nhiều hướng khác nhau. Vào tháng 3/1288, đạo quân thủy của kẻ xâm lược do Ô Mã Nhi thống lĩnh rút qua ngả sông Bạch Đằng, nơi đã diễn ra chiến thắng lịch sử bằng trận địa cọc gỗ của Ngô Quyền trước quân Nam Hán năm 938. Lần này, danh tướng Trần Hưng Đạo quyết định áp dụng kế sách của tiền nhân để tiêu diệt quân xâm lược. Trần Hưng Đạo nghiên cứu kỹ lưỡng quy luật thủy triều của sông Bạch Đằng để vạch ra thế trận cọc và bố trí mai phục quân Nguyên. Trận đánh mở đầu bằng những đòn nhử của thủy quân Đại Việt. Quân Nguyên tiến hành truy kích và rơi vào bãi cọc lúc nào không hay. Khi nước triều rút, thảm họa đã ập xuống đầu quân xâm lược. Những con thuyền lớn của phương Bắc bị dồn ứ, tan vỡ khi va vào những chiếc cọc nhọn hoắt, trong khi quân mai phục của Đại Việt tràn ra từ hai bên bờ với khí thế ngút trời. Kết cục tất yếu đã xảy ra: quân Nguyên thảm bại, mất 4 vạn quân, 400 chiến thuyền và nhiều tướng lĩnh chủ chốt bị bắt sống. Trận thắng trên sông Bạch Đằng của quân và dân nhà Trần dẫn đến thắng lợi hoàn toàn của Đại Việt trong cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông lần 3. Kể từ đó về sau, nhà Nguyên không bao giờ còn dám nghĩ đến chuyện xâm chiếm Đại Việt nữa. Đại thắng trên sông Bạch Đằng được xem là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử Việt Nam và là một trong những trận đánh nổi bật nhất trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt. 


Trận Cảng Eo: Người Việt đánh bại hạm đội châu Âu

Từ đầu thế kỷ 17, Công ty Đông Ấn Hà Lan nổi lên như một thế lực hùng mạnh trong công cuộc khai thác thuộc địa châu Á của thực dân phương Tây và trở thành nỗi sợ hãi của nhiều triều đại phong kiến trong khu vực. Tại Việt Nam thời kỳ này, chúa Trịnh ở Đàng Ngoài đã có sự liên kết với lực lượng Đông Ấn Hà Lan để chống lại chúa Nguyễn. Từ năm 1641, giữa quân của chúa Nguyễn và người Hà Lan đã có nhiều cuộc đụng độ nhưng chưa có trận chiến quyết định nào để thay đổi cục diện giằng co. Mùa hè năm 1643, theo yêu cầu của chúa Trịnh, Công ty Đông Ấn Hà Lan phái ba pháo hạm lớn đến hội quân với họ Trịnh tại sông Gianh (Quảng Bình). Trong hải trình của mình, hạm đội này bị gió thổi giạt vào gần cảng Eo của Đàng Trong (Thuận An, Phú Vang, Thừa Thiên - Huế ngày nay). Biết tin, vào ngày 7/7/1643, đích thân chúa Nguyễn Phúc Lan và Thế tử Nguyễn Phúc Tần dẫn 50 thuyền tiến thẳng ra cảng Eo. Khi nhìn thấy đối phương, thủy binh Nguyễn lao thẳng vào tấn công. Với số lượng vượt trội, đội thuyền chúa Nguyễn nhanh chóng bao vây ba chiến hạm Hà Lan và đánh phá quyết liệt. Quân Nguyễn đã tràn lên boong chiến hạm lớn nhất của Hà Lan mang tên De Wijdeness do thuyền trưởng Pieter Baek chỉ huy, bẻ bánh lái, chặt gẫy cột buồm khiến chiến hạm này bị tê liệt hoàn toàn. Bị dồn vào bước đường cùng, thuyền trưởng Hà Lan cho châm lửa đốt kho thuốc súng, khiến tàu nổ tung. Hầu như toàn bộ những người có mặt trên tàu, gồm quân chúa Nguyễn và 200 binh sĩ Hà Lan, kể cả Baek thiệt mạng. Hai chiến hạm còn lại cố thoát vòng vây và tăng hết tốc lực để bỏ chạy. Một chiếc trong số đó đâm vào đá ngầm và chìm xuống biển khi bị truy đuổi. Thủy quân của chúa Nguyễn đã giành chiến thắng, dù hỏa lực mạnh của người Hà Lan đã khiến họ chìm 7 thuyền và mất 700-800 binh sĩ. Trận đánh này là lần đầu tiên trong lịch sử thuỷ quân của người Việt chiến thắng trước một hạm đội châu Âu. Sau trận đánh, do e ngại thủy binh chúa Nguyễn mà Công ty Đông Ấn Hà Lan không còn dám đưa tàu thuyền vào Đàng Trong nữa. 


Tử địa của người Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút

Tháng 7/1784, mượn cớ giúp Nguyễn Ánh chống Tây Sơn, khoảng 50.000 quân Xiêm với hơn 300 chiến thuyền cùng khoảng 4.000 quân Nguyễn Ánh theo 2 đường thuỷ bộ tiến vào vùng đất Kiên Giang của Việt Nam. Đến cuối năm 1784, liên quân Xiêm - Nguyễn đã chiếm được một số vùng đất phía Tây Gia Định, đóng quân ở căn cứ Trà Tân (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) để chuẩn bị đánh thành Mỹ Tho và Gia Định. Trước tình hình này, tháng 1/1785, lãnh tụ của nghĩa quân Tây Sơn là Nguyễn Huệđã đưa 20.000 quân thuỷ bộ từ Quy Nhơn vào Gia Định. Không chủ trương phòng thủ Gia Định đang bị uy hiếp, ông đã đưa quân lên Mỹ Tho quyết chiến với quân Xiêm. Trong những ngày đầu, Nguyễn Huệ dùng lực lượng nhỏ thăm dò, nghi binh, cử người mang của cải cầu hoà với tướng giặc nhằm tạo sự chủ quan, gây chia rẽ nội bộ và dụ quân Xiêm - Nguyễn sớm tiến đánh Mỹ Tho. Đoạn sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút (khoảng 6-7 km) được chọn làm nơi quyết chiến. Rạng sáng ngày 19/1/1785, toàn bộ lực lượng Xiêm – Nguyễn theo đường thuỷ tiến đánh thành Mỹ Tho. Khi kẻ thù lọt vào trận địa phục kích tại Rạch Gầm - Xoài Mút, quân Tây Sơn dùng pháo đặt trên thuyền, trên bờ và cù lao Thới Sơn bắn áp đảo, đồng thời thuỷ binh từ các nhánh sông tiến ra và từ Mỹ Tho kéo lên chặn đầu, khoá đuôi, đánh tạt sườn, bộ binh đón lõng diệt tàn quân chốn chạy trên bờ. Kết quả là toàn bộ chiến thuyền và phần lớn quân Xiêm - Nguyễn bị tiêu diệt. Quân Xiêm chỉ sống sót khoảng vài ngàn, phải mở đường máu chạy về nước. Nguyễn Ánh cũng vội vã tìm đường chạy sang Xiêm. Với chiến thắng có ý nghĩa chiến lược này, Nguyễn Huệ đã đập tan ý đồ “cõng rắn cắn gà nhà” của Nguyễn Ánh và âm mưu xâm lược của quân Xiêm.


Đại thủy chiến Thị Nại – trận Xích Bích của người Việt

Năm 1800, thế trận giữa nhà Tây Sơn và chúa Nguyễn rơi vào thế giằng co. Vào thời điểm này, thành Quy Nhơn - một địa điểm tối quan trọng về chiến của chúa Nguyễn đang bị quân Tây Sơn uy hiếp mạnh mẽ. Quân tiếp viện cho thành không thể đến bằng đường thủy do phía Tây Sơn bố trí một đội thủy quân cực mạnh để bảo vệ cửa biển Thị Nại. Quyết cứu thành Quy Nhơn, chúa Nguyễn Ánh đưa hạm đội hùng hậu chưa từng có tiến ra phá vòng vây của Tây Sơn ở đầm Thị Nại, với trên dưới 1.000 chiến hạm, trong số đó có 5 chiếc mang được 46 khẩu đại bác. Quân Tây Sơn không thua kém khi cho án ngữ ở cửa biển Thị Nại 3 chiến hạm khổng lồ Định Quốc - trang bị hơn 60 đại bác. Phía sau là gần 2.000 chiến thuyền lớn nhỏ. Lực lượng Tây Sơn còn được hỗ trợ bởi nhiều đại pháo đặt trên cửa ngõ vào Thị Nại. Sau nhiều lần bị đập tan ngay tại cửa đầm bởi hỏa lực phòng thủ của đối phương, chúa Nguyễn quyết định thu quân về để họp bàn các tướng bàn kế tiêu diệt hạm đội Tây Sơn. Nhận định mùa gió đang thuận lợi, họ thống nhất sẽ dùng hỏa công. Đêm rằm tháng Giêng năm Tân Dậu (1801), 1.200 quân Nguyễn bí mật đổ bộ lên bờ, đánh úp các pháo đài của Tây Sơn nhằm hóa giải các cỗ đại pháo. Quân tiên phong của chúa Nguyễn cũng cải trang thành thuyền Tây Sơn vượt qua cửa phòng thủ tiến sâu vào bên trong bắn phá. Trước sự bối rối của đối phương, toàn bộ hạm đội của nhà Nguyễn tổng tấn công bằng hỏa lực mạnh. 3 chiến hạm Định Quốc của Tây Sơn bị trên 60 chiếc thuyền tiên phong của quân Nguyễn bao vây và đánh chìm. Thủy quân Nguyễn đánh thọc sâu, và thuận hướng gió nên sức mạnh tấn công phát huy tối đa, khiến hạm đội Tây Sơn cháy phần phật trong một biển lửa. Trận Thị Nại đã kết thúc với chiến thắng toàn diện của chúa Nguyễn. Sau trận đánh này, Nguyễn Ánh liên tiếp giành chiến thắng và nắm quyền kiểm soát toàn bộ đất nước. Trận thủy chiến Thị Nại có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ, đó là trận Xích Bích ở cuối thời Đông Hán bên Trung Quốc. Cả hai trận đánh đều diễn ra trong các cuộc nội chiến giành quyền làm chủ đất nước, đều diễn ra trên mặt nước với quy mô rất lớn, quy tụ hầu như toàn bộ lực lượng của thủy quân của các bên tham chiến, và đặc biệt là lực lượng chiến thắng đã dùng lối đánh hỏa công dựa vào hướng gió thuận lợi. 


Trận Nhật Tảo – trận đánh nhỏ mang tầm vóc lịch sử vĩ đại

Năm 1861 là thời điểm thực dân Pháp đang mở rộng cuộc xâm chiến Nam Kỳ. Ngày 23/6 năm đó, quân Pháp đánh chiếm Gò Công (Tiền Giang), rồi cho tiểu hạm Espérance (tiếng Pháp nghĩa là Hy Vọng), đến đồn trú ở sông Nhật Tảo. Espérance là một tàu bọc đồng chạy bằng hơi nước, có thể ra vào những luồng lạch cạn, được trang bị một đại bác cùng nhiều vũ khí đa năng. Đây là một trong những tàu chiến mạnh nhất trên sông nước của quân Pháp lúc bấy giờ. Quyền quản cơ Nguyễn Trung Trực của nhà Nguyễn cùng các đồng sự đã chuẩn bị kế hoạch tấn công chiếc tiểu hạm này trong một thời gian dài. Trưa ngày 10/12, ông chỉ huy đội cảm tử quân gồm 59 người (có thông tin cho là 150 người), phân tán trên nhiều thuyền nhỏ, giả làm thuyền đám cưới, áp sát pháo hạm Espérance, lúc này đang tuần tra trên sông. Bằng vũ khí thô sơ, nghĩa quân bất thần nhảy lên boong tàu, diệt 37 tên địch (có 17 người Pháp). Sau khi lấy búa phá tàu không được, nghĩa quân bèn nổi lửa đốt cháy con tàu – được coi là biểu tượng cho sự xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam. Chiến thắng này đã làm nức lòng nhân dân Việt Nam thời điểm đó. Khi tin ra đến Huế, vua Tự Đức liền cho ban lệnh trọng thưởng cho tất cả những người tham gia trận đánh. Viên thanh tra bản xứ tại Nam Kỳ tên Paulin Vial gọi đây là “một sự kiện đau đớn làm người An Nam phấn chấn và gây xúc động, đau lòng sâu sắc trong lòng người Pháp”.

                                                                                     Nguồn: Kiến thức

Read more…

TÔN GIÁO VÀ PHÁP LUẬT

tháng 10 03, 2013 |
nghi phuong

Việt Dũng

Tôn giáo luôn được xảy đinh là một vấn đề nhạy cảm. Xác định tầm quan trọng của tôn giáo trong đời sống tự do tín ngưỡng của nhân dân trong những năm qua của Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện thống nhất quan điểm: Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo theo hoặc không theo bất cứ tôn giáo nào”. Đây là tư tưởng xuyên suốt cho mọi hoạt động quản lí nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động tôn giáo thuần túy dựa trên cơ sở pháp luật.

Thể chế hóa chủ trương chính sách của Đảng về công tác tôn giáo. Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo khung hành lang pháp lí vững chắc cho các hoạt động tôn giáo cũng như hoạt động quản lí nhà nước về tôn giáo .

Thực tế cho thấy sau khi pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo đưa quốc hội thông qua ngày 18/06/2004 và Nghị định số 92/2012 qui định về các hoạt động tôn giáo các văn bản pháp luật khác có liên quan… đa số tín đồ , chức sắc phấn khởi tin tưởng vào chính sách tự do tôn do tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng. Nhà nước, chính quyền , các địa phương , các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng ngày càng có chiều hướng tốt.

Như vậy quan điểm của Đảng, chính sách của pháp luật của Nhà nước ta không chỉ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo mà còn đề cao vị trí , vai trò tôn giáo trong các đời sống dân tộc và sự nghiệp cách mạng XHCN. Điều đó khẳng định chủ trương chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước là nhất quán và hoàn toàn phù hợp với thực tiễn của đất nước Việt Nam. Chính vì vậy, có thể khẳng định Đảng và nhà nước ta không hề kì thị tôn giáo và đàn áp tôn giáo. Chúng ta đảm bảo quyền tự do tôn giáo dựa trên pháp luật.

Thời gian gần đây tôn giáo lại nổi lên là “điểm nóng “ gây ra nhiều vấn đề phức tạp về ANTT, nhất là trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Khi đề cập đến tôn giáo ở Nghệ An là người ta hình dung đến hoạt động lợi dụng Thiên Chúa giáo của số đối tượng cực đoạn gây ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh trật tự tại địa phương.

Dưới sự định hướng sai trái của linh mục Nguyễn Đoài , giám mục là Nguyễn Thái Hợp, các giáo dân cực đoan đã có những hành động sai phạm tấn công lần lướt chính quyền. Những hình ảnh trái ngược với người phụ nữ chân quê dùng gạch ném vào trụ sở UBND xã Nghi Phương… là không thể chấp nhận được. Sự kiện này đã làm nóng thêm tình hình ANTT trên địa bàn tỉnh trong một loạt sự kiện liên quan đến giáo hội Thiên chúa giáo ở giáo phận Vinh.

Thiết nghĩ tôn giáo phải hoạt động dưới pháp luật là cần thiết , nếu khoongg có sự quản lí của nhà nước thì sẽ có biết bao vụ gây rối như đồng bào giáo dân cực đoạn ở xứ Mỹ Yên.
Read more…

TÔN GIÁO VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHỨC TẠP

tháng 10 01, 2013 |
dan

Kinh Kha

Tôn giáo là một vấn đề nhạy cảm trong xã hội. Thông qua tôn giáo người dân gửi gắm những ước mơ khát vọng mà họ không thực hiện được. Trong quá trình xây dựng đất nước Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng và quan tâm đến tôn giáo và có chính sách tín ngưỡng tôn giáo đúng đắn phù hợp với điều kiện hoàn cảnh đất nước. Nhà nước Việt Nam tuyệt đối không kì thị tôn giáo, đàn áp tôn giáo nhưng tự do tôn giáo không có nghĩa đứng trên phá luật coi thường pháp luật.

Tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Nó có lợi ích tích cực giúp con người ta hướng thiện. Tôn giáo có chức năng ru ngủ; chính chức năng này đã giúp các thế lực thù đích lợi dụng triệt đẻ nhằm đạt được những ý đồ xấu xa của chúng. Thực tế Đảng và Nhà nước ta luôn có những chính sách hết sức có lợi về vấn đề tôn giáo như  Ngị quyết số 25-NQ/TW : luôn tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt đối xử vì lí do tôn giáo… đồng thời cũng nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối xâm phạm an ninh quốc gia.

Mặc dù Đảng và Nhà nước ta có nhiều chính sách đối với tôn giáo. Nhưng các thế lực xấu vẫn lợi dụng triệt để tôn giáo. Chúng ru ngủ rồi lôi kéo các tín đồ bị mù quáng nghe theo lời của chúng, nghe theo chúng thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật. Vậy nên trong thời gian qua đã xảy ra nhiều vụ việc đã lợi dụng vấn đề tôn giáo ở nước ta. Điển hình là vụ việc ở xã Nghi Phương- Nghi Lộc – NGhệ An các giáo dân đã kéo đến gây rối trật tự an ninh ở trụ sợ xã sử dụng băng rôn, khẩu hiệu phản đối chính quyền, bắt giữ người trái pháp luật, và đã chống lại người thi hành công vụ; cố ý gây thương tích, xâm phạm tới sức khỏe của nhiều người. Đây là vụ việc điển hình lợi dụng vấn đề tôn giáo. Vậy nên nó phải bị lên án và những đối tượng lợi dụng tôn giáo phải bị trừng trị. Tôn giáo cho người ta một niềm tin bất diệt, mỗi giáo dân họ đều có lòng tin và lòng trung thành tuyệt đối. Đó là lí do giúp các thế lực xấu thực hiện âm mưu ý đồ. Vì vậy là một người dân Việt Nam chúng ta phải cảnh giác, không để các thế lực xấu thực hiện âm mưu của mình.
Read more…

NHÌN RA THẾ GIỚI, TỰ HÀO VIỆT NAM

tháng 10 01, 2013 |

2


Lan Anh

 

Là một người con đất Việt, tôi thấy mình thật may mắn khi được sống trên một đất nước có nền tự do, độc lập, dân chủ toàn diện. Ở nơi đây, người dân Việt Nam luôn được yên ổn làm ăn, phát triển kinh tế, được vui chơi thoải mái mà không phải lo sợ trước những nguy cơ đe dọa đến sức khỏe, tính mạng của mình.

Đất nước Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển kinh tế, đại bộ phận người dân đã có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nếu ở Mỹ, phân hóa giàu nghèo rất sâu sắc, người giàu tập trung ở những thành phố và có cuộc sống quá sung túc thì người nghèo thậm chí còn không có nơi để sống, phải sống trong những khu ổ chuột nghèo nàn. Mặt khác ở Mỹ, hàng ngày, hàng giờ luôn phải đối mặt với các cuộc tranh giành quyền lực, với bạo loạn, với các cuộc đấu tranh vũ trang, ném bom, giết người… Người dân lúc nào cũng nơm nớp lo sợ khi tính mạng của họ luôn bị đe dọa, cuộc sống bị xáo trộn.

Có được những điều đó là nhờ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng duy nhất lãnh đạo nhân dân Việt Nam ta đánh thắng giặc ngoại xâm xâm lược và công cuộc phát triển đất nước hiện nay. Càng nghĩ về sự may mắn của mình, tôi lại càng nghĩ tới những ý kiến lệch lạc của Lê Hiếu Đằng, Trần Vũ Hải và một số ngưới khác. Tại sao những người có học như họ lại không biết rút ra bài học từ sự bất ổn chính trị của các nước trên thế giới của việc thực hiện đa nguyên, đa đảng. Bởi ai cũng biết nếu thực hiện đa đảng, cái chúng ta dễ mất nhất đó là sự ổn định chính trị. Mà chính trị mất ổn định sẽ dẫn đến kinh tế và các hoạt động khác cũng bất ổn theo. Bởi vậy, là một công dân Việt Nam, tôi thấy việc thực hiện đa nguyên, đa đảng là không cần thiết, bởi đơn giản chúng tôi đã quá hài lòng với cuộc sống tốt đẹp của hiện tại.
Read more…

MỐI QUAN HỆ GIÁO DÂN VÀ CHÍNH QUYỀN Ở NGHỆ AN QUA NHỮNG CON SỐ

tháng 10 01, 2013 |

nghi phuong


Hoa đất


Trong thời gian qua, vụ gây rối của giáo dân xứ Mỹ Yên (Nghi Phương, Nghi Lộc, Nghệ An) đang tốn không ít giấy mực của các trang mạng BBC, RFA liên tục đăng tin, chuyển tải dư luận với nội dung: chính quyền đàn áp tôn giáo, chính quyền đối xử phân biệt với giáo dân, cầu nguyện để được tự do tôn giáo… Bỏ qua những hành vi vi phạm pháp luật của số giáo dân quá khích đang được BBC, RFA khai thác quá đà, với tinh thần hòa hợp dân tộc, lương giáo đoàn kết có thể nhận ra sự đồng thuận, quan tâm của chính quyền đảm bảo nhu cầu tự do tín ngưỡng tôn giáo của giáo dân giáo phận Vinh qua những hành động cụ thể, mà tôi dám chắc không phải tôn giáo nào trên địa bàn cũng có được.

Chính quyền tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiện mở rộng Đại chủng viện, chiêu sinh tự do, vì cơ sở vật chất không đáp ứng đủ số lượng lớn nên chỉ tuyển trên 400 chủng sinh. Công trình tái thiết đại chủng viện Vinh Thanh với chi phí kết toán đợt một đã là 7.067.146.000đ. Một đại chủng viện chỉ đứng sau giáo phận Hưng Hóa và Xuân Lộc, nhưng một miền Trung nghèo khó về kinh tế và ít ỏi về dân cư mà giáo phận chúng ta đã có những công trình như thế đã là một ưu thế. Phục vụ giáo dân cũng là phục vụ Thiên chúa, phục vụ tổ quốc. Đấy không chỉ là trách nhiệm của riêng Tòa giám mục mà sự chung tay của toàn xã hội. Tỉnh đã hỗ trợ, giải quyết cho tách lập 23 xứ đạo, 43 họ đạo, các họ đạo mới được tách lập đã được giải quyết đất đai, hàng chục cơ sở tôn giáo được mở rộng khuôn viên…

Tỉnh cũng đã phê duyệt, cấp phép xây dựng cho hơn 70 nhà thờ, nhà phòng, nhà học giáo lý. 97% cơ sở tôn giáo đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giải quyết giao đất cho hầu hết các họ đạo được tách lập mới, mở rộng khuôn viên hơn 25 cơ sở (nhà thờ, xứ, họ). Đặc biệt, hiện nay, Ủy ban Nhân dân tỉnh đang xem xét, giải quyết mở rộng khuôn viên Đền Thánh An Tôn - Giáo họ Trại Gáo (xã Nghi Phương, huyện Nghi Lộc). Công tác đào tạo chức sắc, dạy giáo lý tín đồ cũng được quan tâm đúng mức.

Cùng chủ trương xã hội hóa ngành y tế của Nhà nước, nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân, được sự chung tay của chính quyền Nghệ An, Giáo phận Vinh có bệnh viện đa khoa mà chưa tôn giáo nào hiện nay có được. Thực hiện chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Đảng, Nhà nước, Nghệ An cũng đã triển khai nhiều chương trình, dự án trên địa bàn vùng Công giáo, nhất là đầu tư hạ tầng cơ sở, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, tập huấn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi, hỗ trợ vốn, đào tạo nghề cho giáo dân… Nhờ đó, đến nay trong vùng giáo dân Nghệ An đã có hơn 25 làng nghề, hơn 33 làng có nghề và hàng trăm hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân hoạt động có hiệu quả, tạo điều kiện cho hàng chục ngàn hộ giáo dân thoát nghèo.

Có thể nhận thấy, suốt thời gian qua, những nhu cầu chính đáng, hợp pháp, phù hợp thực tế và phù hợp pháp luật Việt Nam của bà con giáo dân giáo phận Vinh về cơ bản đều được đều giải quyết kịp thời, đúng quy định. Điều này đã vô hiệu hóa những luận điệu của các trang mạng BBC, RFA trong thời gian qua. Thiết nghĩ, BBC, RFA… nên khai thác những hành vi vi phạm pháp luật, cố tình xuyên tạc sự thật, kích động chống phá để đưa tin phong phú hơn...

                                                          
Read more…